Một lúc lâu sau, nàng cười.
“Mười năm trước mở đê tây, chàng nói không còn cách nào.”
“Sau đó lấy chữ của ta làm khế giả, chàng cũng nói không còn cách nào.”
“Bây giờ A Nương ta sắp c.h.ế.t, chàng còn lấy bà ra khuyên ta nhận tội.”
Nàng ngẩng đầu.
“Sao lần nào chàng không còn cách nào, người chịu thiệt cuối cùng cũng là người khác?”
Sắc mặt muội phu khó coi.
“Ta đang cứu nàng.”
“Không cần.”
Tiểu muội đẩy tờ nhận tội trở lại.
“Cách chàng từng dùng để cứu ta, ta chịu đủ rồi.”
Muội phu không nói thêm.
Trước lúc rời đi, gói bánh ngọt cũng không mang theo.
Ngày hôm sau ta mang cơm tới.
Tiểu muội đứng sau cửa lao nói với ta:
“Bánh ta cho bà lão phòng bên rồi.”
“Răng bà ấy không tốt, ngâm nước vẫn ăn được.”
Ta hỏi:
“Còn ngươi?”
“Ta không thích đồ ngọt nữa.”
Đêm thứ hai tiểu muội bị giam, thuyền của người lái đò bị đốt.
Lửa bốc từ đuôi thuyền.
Lúc phát hiện, nửa con thuyền đã cháy rực.
Ta và người buôn trà xách nước dội lên, người quanh đó cũng tới giúp.
Cuối cùng vẫn chỉ cứu được hai mái chèo cháy đen.
Người lái đò đứng bên bờ, một tiếng cũng không mắng.
Trời vừa sáng, ông đã tới tiệm mộc.
Thợ mộc hỏi:
“Còn đóng thuyền nữa sao?”
“Đóng.”
“Ông lấy đâu ra tiền?”
“Nợ trước.”
Ta đứng bên cạnh nhìn hai mái chèo cháy đen, trong lòng nghẹn khó chịu.
Người lái đò trái lại còn chê ta chắn đường.
“Đừng đứng đực ra đó.”
“Án của muội muội cô còn chưa rửa sạch.”
“Đốt một con thuyền thì người c.h.ế.t sẽ không còn là người c.h.ế.t chắc?”
Lời này truyền ra.
Ngược lại có càng nhiều người cũ tìm tới chúng ta.
Có người là nữ nhi Tê Hà Ổ gả ra ngoài năm đó.
Có người trong nhà vẫn giữ địa khế cũ.
Có người còn lấy ra được phiếu thuế trà trước trận lũ.
Quan trọng nhất là bảy thương nhân buôn trà đều chịu ra làm chứng.
Nhà họ Bạch có thể nói một quyển sổ là giả.
Không thể nói sổ của bảy nhà Nam Bắc đã cùng nhau cấu kết từ mười năm trước để hại họ.
Cuối cùng phủ thành cũng phái người tới.
Huyện nha không đè nổi nữa.
Tiểu muội được thả.
Mấy trà kho nhà họ Bạch đồng thời bị niêm phong.
Cũng đúng chiều hôm ấy, phương Bắc gửi tới một phong thư khẩn.
Là hàng xóm viết.
A Nương đã ba ngày không ăn nổi thứ gì.
Phần lớn thời gian đều mê man.
Mỗi lần tỉnh lại chỉ hỏi một câu:
“Chúng nó về chưa?”
Tiểu muội đọc xong thư, lập tức thu dọn hành lý.
“Đi.”
Ta cũng chỉ nói một chữ.
“Đi.”
Chúng ta suốt đêm mua hai con ngựa.
Vừa dắt ngựa ra khỏi khách điếm thì bên ngoài chợt đổ mưa.
Mưa càng lúc càng lớn.
Chưa đầy một canh giờ, nước trên đường đã ngập quá mu bàn chân.
Chúng ta vừa định ra khỏi trấn thì người lái đò đội mưa chạy tới.
“Không về được!”
Ta tưởng ông nói đường núi.
Nhưng ông lại chỉ về phía tây.
“Người nhà họ Bạch lên đê rồi!”
Người của phủ thành đã niêm phong trà trang.
Sổ cũ cũng bắt đầu bị lần ngược về chuyện mười năm trước.
Lão gia chủ nhà họ Bạch biết một khi để lại con đường nước cũ cuối cùng ấy, chuyện mở đê tây sớm muộn cũng không giấu nổi.
Họ dẫn người lên núi, muốn nhân lúc mưa lớn phá đê cũ thêm một lần.
“Đê tây mà mở, mười mấy hộ phía dưới sẽ gặp nạn trước.”
Người lái đò thở dốc.
“Quan đạo đi về phương Bắc cũng sát hạ lưu.”
“Nước mà tràn xuống, hai người càng không đi được.”
Tiểu muội ném hành lý trở lại khách điếm.
“Đi.”
Lần này không phải về nhà.
Mà là lên núi.
Ta vẫn chỉ nói một chữ.
“Đi.”
Trong mưa căn bản không nhìn rõ đường.
Chân tiểu muội không tốt, ngã hai lần.
Ta kéo nàng, nàng còn chê.
“Đừng kéo.”
“Tỷ lăn xuống thì ai vớt tỷ?”
“Hồi nhỏ người cưỡi la là ta, nên ta mới biết tỷ không đáng tin.”
Nàng còn dám cãi lại!
Phía trước đã truyền tới tiếng la hét.
Đê tây loạn thành một đoàn.
Hơn mười gia đinh nhà họ Bạch đang đào kênh cũ.
Những người Tê Hà sống sót ở hạ du cũng đã chạy tới, liều mạng chặn lại.
Lão gia chủ nhà họ Bạch người đầy bùn nước, cầm gậy vung lên mắng:
“Núi này là của nhà họ Bạch!”
“Ai dám cản!”
Người lái đò lao nhanh hơn tất cả, đ.â.m thẳng khiến lão ngã vào bùn.
“Của nhà ngươi?”
“Hai mẫu núi trà nhà thê t.ử ta từ bao giờ thành của nhà ngươi!”
Gia đinh lập tức ùa lên.
Hai bên đ.á.n.h nhau thành một đoàn.
Sợi dây thừng lớn bên cửa cống cũ đã bị c.h.é.m đứt quá nửa.
Chỉ cần đứt hẳn, nước tích lại sẽ men theo con đường mười năm trước mà tràn về phía tây lần nữa.
Một gia đinh giơ rìu lên.
Tiểu muội lao tới, đ.â.m người ấy sang bên.
Chân nàng vốn không tốt, chính mình cũng ngã xuống bùn.
Ta nhặt cây gậy gỗ dưới đất lên mà đ.á.n.h.
Sai dịch phủ thành cuối cùng cũng chạy tới.
Lão gia chủ thấy chuyện không thành, tự mình chộp lấy rìu.
Muội phu chặn trước mặt ông ta.
“Cha, đủ rồi.”
Lão gia chủ trở tay tát hắn một cái.
“Cái gì gọi là đủ!”
“Cơ nghiệp mấy đời nhà họ Bạch đều sắp bị các ngươi hủy sạch!”
“Mười năm trước ngươi chẳng phải cũng dám làm sao!”
Tất cả mọi người chợt im bặt.
Chỉ còn tiếng mưa vẫn rơi.
Muội phu đứng nguyên tại chỗ.
Lão gia chủ cũng biết mình lỡ lời, mắng một câu rồi quay người bỏ chạy.
Nhưng người lái đò đã nghe rõ.
Ông từng bước đi tới.
“Mười năm trước, ngươi cũng có mặt?”
Muội phu không đáp.
Người lái đò túm cổ áo hắn.
“Ta hỏi ngươi, ngươi cũng có mặt?”
Rất lâu sau, muội phu mới nói:
“Có.”
Năm ấy hắn hai mươi tuổi.
Ba trăm mẫu ruộng trà mới trồng phía đông vừa xuống giống.
Nhà họ Bạch vay một khoản bạc lớn.
Một khi nước lũ xả về phía đông, cơ nghiệp mấy đời đều sẽ phải đền vào.
Cho nên lão gia chủ chặn cửa đông, sai người mở đê tây.
Muội phu tự tay đóng ba cọc gỗ.
Người lái đò hỏi:
“Ngươi có biết phía dưới có người không?”
“Biết.”
“Biết có trẻ con không?”
Muội phu không nói.
Người lái đò đ.ấ.m một quyền.
Hắn không né.
Quyền thứ hai.
Quyền thứ ba.
Cho tới khi sai dịch kéo hai người ra, người lái đò vẫn cứ hỏi:
“Sao ngươi dám?”
“Con ta khi ấy mới vừa biết đi.”
“Sao ngươi dám?”
Lần này không ai trả lời ông.
Đê tây được giữ lại.
Chiều hôm sau, quan đạo đi về phương Bắc mới có thể thông hành trở lại.
Ta và tiểu muội không đợi vụ án xử xong.
Người của phủ thành hỏi xong mấy câu cuối liền cho chúng ta rời đi.
Trước khi đi, tiểu muội tới tiệm trà cũ ở trấn Bạch Thạch một chuyến.
Chưởng quầy lấy chiếc hộp gỗ từng đựng mười phong thư ra.