Nhìn ra đám người tiễn biệt, ta thấy Lâm Tư Nhuận áo trắng sạch tựa tuyết, mỉm cười một cách khó hiểu.
Hắn thương hại ta phải lấy đồ tể chăng?
Ta chẳng buồn đoán nữa, để rèm xe rủ xuống khi bánh xe lăn đi.
Suốt hành trình, chàng nắm tay ta; lòng bàn tay chai sần, thô ráp, nhưng rộng và ấm.
Ta thầm nghĩ bao năm làm thịt ở vùng ngoại ô Kinh Thành hẳn rất cực nhọc, huống chi buôn bán quanh hoàng thành khó cạnh tranh.
Phu nhân ở Lý phủ coi thường chàng, nhưng những người quen nhung lụa nào hiểu được nỗi nhọc nhằn của dân thường.
Chàng lại đem sính lễ và lễ hồi môn hậu hĩnh đến Lý gia, e đã tiêu gần cạn số bạc dành dụm.
Của hồi môn Lý gia cho ta cũng chẳng đáng bao.
Nghĩ phải sớm liệu kế sinh nhai, ta nắm tay chàng động viên rằng dẫu trong nhà không còn nhiều tiền, chỉ cần cùng cố gắng, ngày tháng tất sẽ khá lên.
An Nguyên Kỳ vui đến mức ôm ta vào lòng, cằm tựa vai khiến ta nhột, quả quyết: “Liên Liên, có ta ở đây, nàng nhất định không phải chịu cảnh ăn cám nuốt rau.”
Mãi đến lúc bước vào phủ Bình Tây Đại tướng quân, ta mới hiểu vì sao chàng chắc chắn đến vậy.
Người đứng trước mặt ta chẳng phải thợ mổ heo An Nguyên Kỳ, mà là Bình Tây Đại tướng quân An Trình do chính Hoàng đế phong chức.
Danh tiếng của chàng lan xa tới tận An Dương.
Năm Thiên Khải thứ năm, một thiếu niên mặc áo gấm vào doanh trại Tây Bắc, chinh chiến dũng mãnh, lập công từ binh sĩ vô danh rồi thăng đến hiệu úy.
Khi tân đế đăng cơ được năm năm, trong nước vừa dẹp xong phe phái đối nghịch, ngoài biên lại có Hàn Vương phía bắc và các bộ tộc du mục quấy phá.
Thiên t.ử thân chinh, nhiều lần được viên hiệu úy trẻ cứu giữa chiến trận nên đặt lòng tin, liên tiếp trọng dụng.
Đến Thiên Khải năm thứ mười bốn, Hàn Vương bị diệt, quân du mục bị đẩy lui, vị đại tướng lập đại công ấy được vua ban tên An Trình, chữ “Trình” lấy ý từ ngọc hốt đế vương.
Chiến sự lắng xuống, Hoàng đế muốn ban hôn, nhưng chàng thưa cha mẹ thuở trước đã đính ước cho mình, không thể trái lời.
Vì thế mới có cuộc cầu thân tại An Dương.
Đến biểu đệ Triệu Ngọc Ninh cũng chẳng phải thương nhân bình thường, mà là công t.ử của Thị lang Bộ Công.
Biết Lý gia sai người thăm dò gia cảnh biểu huynh, hắn cố ý tung tin An Nguyên Kỳ mở sạp thịt heo ở ngoại ô.
Theo hắn, với quyền thế hôm nay, công chúa và quý nữ muốn gả cho An Trình nhiều không đếm xuể, chẳng thể dễ dãi để Lý gia hưởng lợi.
Hắn muốn thử xem nhà họ Lý có giữ lời khi biết chú rể là đồ tể không.
An Nguyên Kỳ nghe mưu ấy chẳng phản đối.
Chàng chỉ gặp Tú Nghiên một lần lúc nhỏ, với vị hôn thê xa lạ cũng có ít nhiều mong đợi.
Sau cuộc thử lòng, chàng thấy Lý gia vẫn đưa dâu, người được cưới cũng thuận lòng theo, nên vô cùng hài lòng.
Chàng vui bao nhiêu, ta sợ hãi bấy nhiêu.
Cổng phủ tướng quân sơn son đỏ ch.ói, hoành phi gỗ kim tơ nam mộc lộng lẫy khiến chân ta mềm nhũn.
Chàng đỡ ta, vuốt má rồi xin lỗi vì đã che giấu, nói trên đường hồi môn đã bẩm rõ thân phận với nhạc phụ nhạc mẫu.
Thảo nào khi tiễn chúng ta, mặt lão gia và phu nhân tái mét; ta còn ngây ngô tưởng họ diễn cảnh chia ly quá thật.
Ngẫm kỹ, phong thái chàng cao quý đường hoàng, vốn chẳng có chút gì của người bán thịt.
Ta lại tưởng những bộ y phục đẹp chàng mặc là cố sắm sửa để không thua kém nhà vợ.
Giờ đây ta thực sự gặp đại họa.
Nếu chàng chỉ là đồ tể, ta có thể giấu thân phận cả đời; trước một đại tướng được vua tin cậy, sự tráo đổi này có thể đưa người ta vào đường c.h.ế.t.
Ta lo sốt vó mấy ngày, lén gửi thư về An Dương, đề nghị đón Tú Nghiên đến Kinh Thành, lấy cớ nàng bệnh nặng nằm mê man mấy tháng nên đành nhờ nha hoàn thay dâu tạm thời.
Ta nghĩ An Nguyên Kỳ vốn hiền lành, lại thấy Tú Nghiên xinh đẹp dịu dàng, hẳn có thể rộng lượng tiếp nhận nàng.
Khi ấy ta lui về làm thiếp, cũng coi như trả đúng vị trí cho tiểu thư.
Lý gia chậm hồi âm, cuối cùng chỉ gửi lời nhắn cho “A Nghiên con yêu”, dặn đừng bận lòng chuyện nhà, hãy chăm sóc chồng và quản lý phủ đệ, mọi việc phải tuần tự thong thả.
Đọc xong, lòng ta chẳng thể yên.
Việc càng kéo dài càng dễ sinh biến, nhưng lão gia và phu nhân đã có chủ ý khác, ta chỉ còn cách tiếp tục đóng vai thiên kim họ Lý.
Mỗi lần đối diện phu quân, trong lòng đều đè nặng một tảng đá.
Nói cho công bằng, sống trong phủ tướng quân sung túc đến mức ta chưa từng dám mơ.
Đèn sáng, đệm êm, áo gấm thức ngon, hạ nhân phục dịch mọi bề, mà chủ t.ử trong phủ chỉ có hai vợ chồng.
Phần lớn người hầu là nam, số nha hoàn ít ỏi cũng cao lớn khỏe khoắn, đúng khí thế nhà võ.
Ngoại lệ duy nhất là A Tử, cô nương dung nhan thanh tú, dáng vóc yểu điệu, lại biết đàn hát.
Nàng vốn là nhạc kỹ cung đình, được Hoàng đế để mắt rồi ban sang phủ tướng quân.
An Trình chẳng thu nàng làm người bên gối, chỉ xếp làm nha hoàn thường.
Chàng quả quyết từ trước đến nay chỉ có mình ta là nữ nhân của chàng.
Với địa vị hiện giờ, điều ấy hiếm có biết bao.
Tân hôn, chàng lúc nào cũng gần gũi, nhiều khi ta mệt mỏi không tiện chiều chồng.
Ta bèn đề nghị chàng chọn vài mỹ nhân làm thiếp.
Chàng ngạc nhiên hỏi sao phu nhân nhà người ta thường hay ghen, riêng ta lại rộng lượng.
Ta ấp úng giải thích quyền quý Kinh Thành quen ba vợ bốn nàng hầu; để một vị tướng quân chỉ có một vợ e sẽ bị cười là sợ “hổ cái son phấn”.
Chàng bật cười, hôn chụt lên mặt ta, bảo dẫu phu nhân có là hổ cái cũng chẳng ai dám giễu cợt.