Công chúa mặc nam phục, vung trường kiếm chống trả, song giặc đông khó địch.
Giữa hiểm cảnh, kỵ binh hiệu úy An Trình dẫn quân đến cứu.
Thiếu niên anh tuấn, võ nghệ mạnh mẽ khiến nàng khâm phục.
Sau đó Hàn Vương phản loạn, Hoàng đế ngự giá thân chinh, công chúa theo quân; đôi bên cùng kề vai chiến đấu, nhiều lần sống c.h.ế.t có nhau.
Từ lòng kính phục, công chúa dần sinh tình.
Nàng dùng tên của ngoại tộc, An Trình không hề hay nàng mang huyết mạch hoàng gia.
Một lần thay nam trang bằng váy áo nữ nhi, nàng bày tỏ tình ý; hai người đã ôm nhau hẹn ước nơi quân doanh.
Năm Thiên Khải thứ mười hai, An Trình được phong Bình Tây tướng quân.
Trưởng công chúa vui mừng xin Hoàng đế cho kết duyên với chàng, Hoàng đế vốn hiểu lòng em nên sẵn lòng thuận.
Cho rằng đã đến lúc nói thật, nàng dẫn An Trình lên tường thành giữa ngày gió cát mịt mù, tiết lộ thân phận.
Nàng nhìn ánh mắt người yêu từng chút lạnh đi.
Từ hôm ấy chàng bắt đầu giữ khoảng cách.
Sau khi hồi kinh, vua muốn ban hôn, An Trình cự tuyệt, viện cớ hôn ước cha mẹ đã định từ lâu.
Công chúa ngỡ chàng chỉ sợ thất tín, còn hứa sẽ đối xử t.ử tế với người vị hôn thê kia nếu cưới chung.
Chàng lại thưa thẳng: người con gái ấy phải là chính thê của thần.
Công chúa sửng sốt, cho rằng không thể để một nữ t.ử thường dân làm bình thê với công chúa mà chẳng khiến thiên hạ cười chê.
An Trình chỉ đáp đời này chàng có đúng một người vợ.
Công chúa bật khóc, níu lấy tay chàng hỏi vì sao đổi lòng.
Nàng còn nhắc thuở trước chàng không nuôi râu, nàng vốn không thích nam nhân để râu, xin được cạo giúp chàng.
Nàng thông minh, tất nhiên đã sớm hiểu chàng cố tránh mình, nhưng bao năm vẫn giả như không thấy.
Đến lúc tuyệt vọng, nàng cầu chàng nói ra nguyên do để mình có thể c.h.ế.t tâm.
Chàng chỉ cười lạnh: “Thần chưa từng hứa sẽ cưới công chúa. Là điện hạ tự nghĩ quá nhiều.”
Nói xong, mọi hy vọng của nàng tan vỡ.
A T.ử đoán An Trình không chịu làm phò mã vì sợ mất binh quyền: hoàng thất triều này vốn không cho tông thất nắm quân đội, chàng không muốn bị ràng buộc.
Nhưng ta nghĩ chàng không phải người chỉ ham quyền thế, hẳn có lý do sâu hơn.
A T.ử buột miệng đùa chẳng lẽ công chúa từng đào mồ tổ tiên chàng.
Câu nói khiến ta lập tức nhớ đến đại án Lương Vương mười năm trước.
An gia vốn là gia đình quan lại nhỏ ở huyện Thanh Hà, phụ thân chàng chỉ làm huyện thừa, bởi vậy phu nhân Lý gia đã chê hôn ước ngay từ đầu.
Tai họa không ngờ lại bắt nguồn từ vườn lê trĩu quả.
Lê nhà họ An to, vàng và ngọt; An đại nhân muốn nhờ tri phủ tiến cử cho cung đình để được cung cấp cống phẩm, mong nhà cửa phát đạt.
Họ được chọn, lê gửi lên phủ Lương Vương để nếm và xét duyệt, cứ thế dâng cống liên tiếp ba năm.
Rồi Lương Vương bị buộc tội mưu phản, có tin ông bỏ độc trong vật tiến cống.
Không ai biết thứ nào có độc, triều đình chỉ biết truy xét và trừng trị hết những người từng dính líu với phủ Lương Vương.
Tri phủ An Dương vốn thân cận ông bị tru di tam tộc, phủ đệ nhuộm m.á.u.
An gia cũng bị cuốn theo vì mấy sọt lê.
Phụ thân và các thúc bá ruột của An Nguyên Kỳ bị c.h.é.m đầu; mẫu thân cùng các thím sợ đường lưu đày nên treo cổ tự vẫn.
Nhánh họ gần bị tịch biên, còn thân tộc xa may mắn thoát nạn.
Đám trẻ trong nhà mỗi người được họ hàng đón đi, riêng An Nguyên Kỳ nương nhờ nhà dượng họ Triệu.
Sau khi tân đế ổn định triều cương, án Lương Vương được minh oan; vụ mưu phản hóa ra chỉ là hệ quả của việc anh em hoàng thất tranh giành ngôi vị.
Oan khuất được rửa, người c.h.ế.t vẫn chẳng thể sống lại.
Ta bỗng hiểu vì sao An Trình không muốn cưới công chúa.
Cha mẹ c.h.ế.t bởi tay triều đình, nhà tan cửa nát, nhưng chàng không thể chỉ vào một cá nhân để gọi là kẻ thù g.i.ế.c cha.
Trái lại, chính chàng đang đem tính mạng bảo vệ giang sơn ấy.
Có lẽ điều duy nhất chàng không muốn làm là kết duyên với huyết mạch hoàng gia.
Nghe hết chuyện, ta ngồi lặng rất lâu.
A T.ử hỏi có đau lòng không, ta tưởng nàng thương hai người yêu nhau mà không thể chung đôi nên gật đầu.
Nàng lại hỏi: “Ý nô tỳ là biết phu quân vẫn từng có nữ nhân trong lòng, phu nhân có đau không?”
Ta nghĩ ngợi rồi đáp mình cũng đau một chút, nhưng chắc chẳng bằng nỗi khổ của hai người kia.
A T.ử thật biết nhân cơ hội.
Kể xong chuyện kín, nàng liền xin ta gả mình cho Tấn Thanh, võ thị được tướng quân tin dùng, bởi nàng chẳng muốn tiếp tục làm việc nặng.
Nàng khuyên tình yêu đẹp không giúp no bụng, phu quân đối tốt là đủ, không cần truy xét tim chàng thuộc về ai, người làm vợ phải dựa vào chồng đến hết đời.
Lời ấy có lý, chỉ sai một điều: người đáng lẽ chung sống cả đời với An Nguyên Kỳ không phải ta, mà là Lý Tú Nghiên.
Ta vào Kinh được nửa năm, khoa thi mùa xuân vừa qua, các tân khoa dạo phố trước muôn người.
Trạng nguyên và Bảng nhãn đã đứng tuổi, chỉ riêng Thám hoa lang mặc áo đỏ rực, cưỡi ngựa cao, tuấn tú phong lưu vô cùng.
Lâm Tư Nhuận cuối cùng đã có được danh hiệu hắn luôn ao ước.
Chẳng bao lâu sau, Tú Nghiên cùng nha hoàn Tước Nhi và Trâu ma ma cũng đến Kinh Thành.
Tiểu thư của ta khi đến phủ tướng quân đã mang tên Lý Tú Hà, tự xưng là nghĩa nữ họ Lý, đến gặp ta mà mắt rưng rưng.