Khi ấy có lẽ đầu tóc ta đầy bụi đất, thiếu niên bên cạnh lại đứng thẳng tắp, răng trắng môi hồng, hàng mày đôi mắt đen rõ nét.
Chàng t/ùy tay rút roi ngựa, quất một roi vào cọc gỗ trước cửa, làm nó nứt toác.
Cha ta run b/ắ/n cả người, lưng cũng khom xuống.
"Gả cho người c/h/ế/t thì được mấy đồng?"
"Bổn thiếu gia đã ưng cô bé này rồi, một năm nữa sẽ quay về cưới."
Chàng cố làm ra giọng già dặn, cha lại bảo ta còn nhỏ, thành thân sớm quá.
Thiếu niên góp với mấy người bạn tối qua được mười lượng, nhét hết cho cha.
"Nhỏ cũng không sao."
"Một năm nữa ta sẽ mang thêm ba mươi lượng sính lễ tới đón cô bé."
"Nếu không thấy người đâu, ta sẽ dỡ tung nhà các ngươi."
Cha nhìn thấy bạc, làm sao không đồng ý, số tiền ấy nhiều hơn hẳn Lư gia chịu trả cho minh hôn.
Chẳng bao lâu họ đi rồi.
Người vừa đi, cha đã đứng thẳng lưng, khịt mũi "hừ" một tiếng rồi bảo:
"Tên công t/ử trắng trẻo ấy thì đ/á/n/h đ/ấ/m gì được, chẳng qua con nhà giàu đưa vào quân đội kiếm cái danh."
"Hôn sự với người c/h/ế/t nhà họ Lư vẫn cứ phải làm."
Mẹ ngăn ông, bà thương ta, nhưng có lẽ không thương bằng em trai.
Bà bảo đại nữ nhi sắp về ăn Tết, giờ có tiền rồi, cái ăn cái mặc đều đủ chống đỡ qua mùa khó, khuyên mãi cha mới chịu dẫn ta đi khám lang trung.
Họ giữ ta lại cũng chỉ vì muốn đ/á/n/h cược một lần, nhỡ đâu thiếu niên ấy thật sự quay về thì sao.
Dù gì còn ba mươi lượng sính lễ treo trước mắt, khiến họ không bỏ được.
Chỉ cần giữ ta sống, thêm một vốc gạo, một nắm cám là đủ cầm cự nửa tháng, có gì khó đâu?
Dẫu thiếu niên không về, đợi qua một năm, lại bán ta lần nữa cũng chưa muộn.
Cuối năm đại tỷ quả nhiên ngồi xe bò trở về, bản thân tỷ sống rất vất vả, mãi chưa có con.
Đó là số mệnh.
Khi ấy ta hoàn toàn không biết về sau Tống Trường Phong sẽ trấn thủ biên quan tròn bảy năm, chưa đầy hai năm, danh xưng "Kiêu Dũng tướng quân" đã vang khắp nơi.
Tiểu đệ cười nhạo ta:
"Dù sao cũng chẳng thể là Tống Trường Phong từng tới nhà chúng ta."
Ta cũng hiểu chắc không phải cùng một người, thậm chí chẳng mấy mong là ngài ấy.
Tướng quân trong truyện kể mắt tròn, đầu lớn, thân hình như đồng sắt, khôi ngô hung hãn, có giống gì thiếu niên trắng trẻo từng cứu ta đâu.
Nhưng tướng quân mang tên ấy, ân nhân cũng mang tên ấy, dù có phải một người hay không, ta vẫn mong tất cả những ai giữ gìn bờ cõi đều bình an.
Về sau chiến tranh kéo dài mãi, đến những người năm ấy cứu ta có phải đã ngã xuống giữa sa mạc cát vàng mênh m/ô/n/g hay không, ta cũng chẳng biết.
Nhưng nhờ mười lượng bạc ấy, nhà ta vượt qua quãng ngày gian khổ nhất, lại để ta sống thêm hai năm.
Việc nhà chờ người làm ngày một nhiều, em trai cũng dần lớn lên, đã cao hơn ta cả một cái đầu.
Nhưng những việc ấy vẫn phải chia giữa hai chị em.
Mẹ cầm một lõi ngô, bẻ làm hai đoạn cho ta và em trai mỗi đứa rút một đoạn.
Quy củ mẹ đặt ra là ai rút được đoạn ngắn phải làm nhiều việc hơn.
Có lần có gánh hát tới đầu thôn, một đứa phải lên núi cắt cỏ cho trâu, đứa còn lại được đi xem hát.
Em trai còn nhỏ ham chơi, ta bèn bẻ ngắn thêm đoạn lõi ngô mình rút được, mong nó đỡ phải làm, được ra đầu thôn xem hát.
Thật ra ta làm thế để làm gì?
Đoạn dài trước sau cũng sẽ vào tay em trai.
Bất kể ta chọn đầu nào, lúc đưa lõi ngô vào tay ta, mẹ vẫn âm thầm bẻ ngắn thêm một chút.
Em trai lè lưỡi bảo:
"Nhị tỷ, vẫn là đệ may mắn hơn."
Đến cuối năm sau, cha muốn bàn chuyện gả chồng cho ta, là một người góa vợ chân què họ Trịnh, chịu đưa tám lượng bạc.
Đại tỷ về nhà, lại cứu ta lần nữa, bảo trong thành Nguyên Châu có nơi tốt hơn, công việc thể diện, chỉ là phải ký khế ước bán thân suốt đời.
Mẹ hỏi suốt nửa đêm, rốt cuộc mỗi tháng được bao nhiêu, còn bảo nuôi lớn vất vả như thế, sao nỡ đưa đi.
Tỷ tỷ nghĩ một lát, nói họ trả một lần hai mươi lượng, về sau không có tiền công hằng tháng, chỉ cho cơm ăn áo mặc.
Cha mẹ bàn bạc với nhau, thấy tám lượng sính lễ nhà họ Trịnh chịu đưa rốt cuộc chẳng bằng hai mươi lượng cầm ngay trong tay.
Cuối cùng mẹ tới bảo ta sau này không cần ở bên bà tận hiếu nữa, trên đời còn đâu việc nào nhàn hạ thế, ta được đi hưởng phúc, tất cả đều là phúc khí của ta.
Ta đã mấy năm không gặp tỷ tỷ, tỷ đến vội đi vội, chỉ khác lần này khi ra đi đã dẫn cả ta theo.
Trên xe, ta hỏi:
"Tỷ tỷ, sau này chúng ta còn về được không?"
Tỷ ôm ta khóc, khóc xong lau nước mắt, lại sa sầm mặt.
"Về làm gì?"
"Được ăn no mặc ấm rồi, sau này không được gửi tiền về nhà, cũng không được quay đầu nữa."
Xe xóc nảy suốt ba ngày hai đêm, không đi Nguyên Châu mà tới An Kinh, sắc mặt ta trắng bệch, dọc đường nôn mấy lần.
Ngoài thành An Kinh có một phụ nhân ăn mặc sang trọng tới, gặp ta liền đưa tay phẩy trước mũi.
"Nếu không phải Đào di nương nhìn thấy mấy món đồ thêu của cô, bà ấy đâu chịu nhận muội muội cô."
"Nhà chúng tôi chỉ nhận khế ước bán thân suốt đời..."
Tỷ tỷ vừa chịu người ta trách mắng vừa nghe, lại vừa lén nhét bạc vụn vào tay bà ấy.
Nhận bạc rồi bà ta vẫn chê bai, nói:
"Đừng trưng bộ mặt đưa đám ấy ra."
"Lục gia có gì không tốt?"
"Sau này ngày lễ Tết vẫn được gặp nhau, mỗi tháng lại có tiền công."
Hai tháng chớp mắt đã hết, nào trà t/h/u/ố/c, ngâm tắm t/h/u/ố/c, châm cứu, họ bảo Trường An làm gì chàng đều phối hợp.
Nhưng trí nhớ không hề có dấu hiệu hồi phục, chàng vẫn quả quyết mình không phải Tống Trường Phong, trên đời người giống nhau đâu có thiếu.
Chu nhị gia hiếm khi chịu mở lòng từ bi, cho chúng ta cùng đi chơi lễ một lần.
Ta và Trường An chưa từng cùng nhau dạo phố, trước kia hội đèn Nguyên Tiêu dành cho tiểu thư công t/ử, nha hoàn tuy đi theo nhưng nào có thời gian ngắm hoa đăng.
Chỉ lo đám đông giẫm vào chân quý nhân, đèn cầm trong tay còn phải soi đường cho người phía trước, chẳng dám phân tâm dù chỉ chút ít.
Trường An cũng chưa từng đi chơi.
Về sau ở Trạch Châu, chàng bận kiếm tiền, ta vội tới thư phường, lần nào cũng đến rồi đi vội vã, chẳng biết đã thấy bao nhiêu cảnh náo nhiệt mà vẫn coi là chuyện bình thường.
Giờ thật sự sánh vai tới xem, trái lại cảm thấy mới mẻ.
Nơi đây đã gần biên thành, bọn trẻ cầm kiếm gỗ nhảy nhót trên đường đất, càng gần biên ải thì thanh danh "Kiêu Dũng tướng quân" càng vang dội.