Kết quả cuối cùng ông chỉ mang tới hai gánh gạo lứt, ba cân đường đỏ cùng một chai rượu giả pha loãng để cưới được bà.
Ngay cả dưới đáy hai gánh gạo ấy, ông cũng lén trộn vào không ít cát đất.
Sau khi lấy chồng, mẹ không bao giờ trở về nhà mẹ đẻ nữa, có lẽ ít nhiều cũng liên quan tới cuộc trao đổi khó coi này.
Năm thứ hai sau khi thành thân, bà sinh ra tôi.
Có vợ con rồi, bố không muốn quanh năm đi khắp nơi bán hàng nữa, bèn dùng tiền dành dụm mở một cửa hàng tạp hóa.
Mặt tiền cửa hàng chỉ rộng chừng hai mét, quầy phía trước bày t/h/u/ố/c lá và rượu, còn những chiếc giá hai bên chen kín gạo, bột mì cùng đủ loại đồ dùng sinh hoạt.
Trước khi tôi năm tuổi, cả nhà ba người chúng tôi tối nào cũng ngủ ngay trong cửa hàng.
Sau khi đóng cửa, mẹ tháo những tấm ván cửa xuống ghép thành giường, ba người chen chúc đến mức muốn trở mình cũng khó.
Đến bây giờ tôi vẫn nhớ mùi dầu mè trộn lẫn với kem dưỡng da, cũng nhớ tiếng chuột chạy khe khẽ trong đêm.
Khi ấy tôi không hiểu nghèo là gì, mẹ cũng chưa từng than phiền.
Ban ngày bà bán hàng, quét dọn, ghi sổ, còn phải tranh thủ chăm sóc tôi, một mình thu xếp mọi việc trong ngoài nhà đâu ra đấy.
Bố thấy cửa hàng không thể thiếu bà nên sau đó không còn trông tiệm nữa.
Sáng nào ông cũng ra khỏi nhà từ sớm, chỉ nói muốn ra ngoài tìm đường làm ăn.
Không biết con đường ấy rốt cuộc là gì, nhưng việc kinh doanh của cửa hàng quả thật ngày càng khá lên.
Mẹ kê hai chiếc bàn trên nền đá trước cửa, những người làm công quanh đó buổi trưa thường tới uống rượu bán lẻ.
Khách gọi một đĩa lạc rang, uống nửa cân rượu rồi tiện miệng trò chuyện với bà vài câu.
Với đa số mọi người, bà chỉ khách sáo ứng phó, duy chỉ có một người buôn rượu là bà sẵn lòng nói chuyện nhiều hơn.
Người đó họ Hạ, làm nghề kinh doanh rượu trong thành phố, thường xuyên cung cấp hàng cho cửa tiệm.
Lúc ấy tôi còn nhỏ, chỉ cảm thấy ông chủ Hạ nói năng rất có bản lĩnh, trông còn giống người làm nên chuyện hơn bố tôi.
Sau này nhìn lại, tôi mới nhận ra ông chủ Hạ chính là cơ hội giúp mẹ rời khỏi thị trấn nhỏ.
Mùa hè năm tôi năm tuổi, một đêm oi bức đã thay đổi cả gia đình.
Bố mãi không về, mẹ còn cố ý chừa một khe nhỏ ở cửa tiệm cho ông.
Bà vừa quạt cho tôi vừa nghiêng tai nghe động tĩnh ngoài phố.
Gần nửa đêm, thím Lý bỗng hốt hoảng gọi ngoài cửa.
“Mẹ Vũ Đồng, mau ra đây!”
“Xảy ra chuyện gì vậy?”
“Chồng cô xảy ra chuyện ở ngõ Phương Thảo rồi, mau tới xem đi!”
Mẹ lập tức ngồi bật dậy khỏi chiếc giường ghép bằng ván cửa, vội vàng khoác áo mỏng rồi chen ra ngoài.
Tôi nằm phía trong, nghe rõ từng câu của họ.
“Chị Lý, rốt cuộc anh ấy làm sao?”
“Đừng hỏi trước, người đang ở ngay đầu ngõ, cô tới rồi sẽ biết.”
“…Tôi biết rồi.”
Ngõ Phương Thảo là nơi thế nào, đến một đứa trẻ năm tuổi như tôi cũng từng nghe loáng thoáng.
Phụ nữ trong làng ai cũng đề phòng chồng mình chui vào đó, thím Lý còn từng vì chuyện này mà đ/á/n/h nhau với chồng một trận.
Tôi sợ bố mẹ cũng đ/á/n/h nhau nên chân trần chạy theo.
Thím Lý nhìn thấy tôi, đưa tay kéo tôi tới cạnh mình.
“Đưa con bé theo đi, nếu thật sự có chuyện chẳng lành, nó cũng nên có mặt.”
Tôi còn chưa hiểu lời ấy có nghĩa gì, mẹ đã nắm c/h/ặ/t t/a/y tôi chạy về phía con ngõ.
Chúng tôi rẽ qua mấy con phố, từ xa đã nhìn thấy khói đặc cuồn cuộn bốc lên trời đêm.
Mọi người xách xô nước chạy tới chạy lui, trên những tấm ván bên đường có mấy người bị hun đen nằm bất động.
Tôi không nhận ra bố ngay lập tức, nhưng mẹ chỉ nhìn một cái đã nhận ra người nằm trên tấm ván ấy.
“Sao lại thành thế này!”
Bà phát ra một tiếng kêu t/h/ả/m thiết, ôm c/h/ặ/t đ/ầ/u tôi, ép mặt tôi vào lòng.
Bà càng không cho nhìn, tôi càng muốn quay đầu nhìn cơ thể cháy đen ấy.
Mẹ run rẩy toàn thân, chỉ có thể giao tôi cho thím Lý vừa chạy tới sau đó.
Bà nhìn tấm ván, liên tục lẩm bẩm:
“Không thể nào, không thể nào…”
“Chị Lý, làm phiền chị đưa Vũ Đồng về trước.”
“Không để con bé lạy bố nó lần cuối sao?”
“Nó còn nhỏ, đừng để nó nhìn những thứ này.”
Tôi cứ thế bị đưa về cửa hàng, một mình nằm trên giường ván đợi tới quá nửa đêm.
Sau khi trở về, mẹ không khóc ngay mà chạy thẳng tới chiếc hòm đựng tiền.
Khoảnh khắc nắp hòm được mở ra, bà như bị rút hết xương cốt, ngồi bệt xuống đất khóc lớn.
Chiếc hòm đã trống không, số tiền chúng tôi tích cóp suốt bao năm cũng không còn một xu.
Không ai biết tiền đã bị bố tiêu sạch hay bị thiêu cùng trong trận cháy ấy.
Đêm đó, chúng tôi đồng thời mất cả người lẫn toàn bộ gia sản.
Sau này mỗi lần nhớ lại chiếc hòm tiền đó, tôi đều nhớ dáng mẹ ngồi dưới đất.
Bố không có họ hàng thân thích qua lại, tang lễ được tổ chức qua loa xong thì mọi chuyện coi như kết thúc.
Mẹ vẫn mở cửa buôn bán, nhưng khách tới cửa mỗi ngày một ít đi.
Những người đàn ông trước kia ngồi ngoài cửa uống rượu đều tránh xa, phụ nữ cũng không cho chồng mình tới gần.
Nghe tới đây, Anna không nhịn được ngắt lời.
“Họ sợ dính xui xẻo sao?”
“Không hoàn toàn.
Chỉ là người ta vốn hay soi mói một góa phụ trẻ, chuyện gì cũng có thể bị đem ra bàn tán.”
Khi bố còn sống, ông trăng hoa bên ngoài, lại tiêu sạch tiền của gia đình, vậy mà vừa c/h/ế/t, những lỗi lầm ấy dường như cũng bị xóa sạch.
Mọi người không thương cảm người góa phụ trẻ tuổi, chỉ sợ bà gây ra lời ra tiếng vào.
Có người nói bà khắc chồng, có người bảo bà mang điềm xấu, cứ như chỉ cần xa lánh bà là có thể giữ được người đàn ông nhà mình.
Những đạo lý này phải tới khi lớn lên tôi mới hiểu.
Lúc ấy tôi chỉ biết cháo ngày càng loãng, trên bàn ăn bữa nào cũng chỉ có dưa muối.