Trời sắp sáng, phía đông đã lộ ra một chút màu trắng bụng cá.
Sau lưng truyền đến giọng hắn đã hạ thấp:
“Đi đường bình an.”
Khi ta ra khỏi cung, chân trời vừa lộ một đường sáng sớm.
Bồ câu đưa thư ngoài thành đáp xuống vai ta lúc bình minh, trên vòng chân buộc một mảnh giấy nhỏ.
Trên đó chỉ có hai chữ.
Thành công?
Ta cầm b.út, viết ở mặt sau rồi thả chim bay đi.
Ta biết rất rõ, chưa đến nửa ngày, sư phụ sẽ dẫn ba nghìn bộ hạ cũ đã ẩn náu nhiều năm từ trong sơn cốc xuất phát.
Cách phía bắc thành hai mươi dặm có một sơn cốc kín đáo, ba mặt núi bao quanh, cây cối che phủ.
Ngôi miếu hoang chính là lối vào.
Ta đẩy cánh cửa bí mật phía sau điện, men theo bậc đá đi xuống, cuối cùng đến hang giấu quân.
Trong hang đèn đuốc sáng trưng.
Ba nghìn ánh mắt đồng loạt nhìn về phía ta.
Sư phụ đứng ở đầu tiên.
Ông đã già, tóc bạc trắng, nếp nhăn trên mặt sâu như d.a.o khắc, nhưng sống lưng vẫn thẳng tắp như năm nào.
Vừa thấy ta bước vào, ông liền quỳ xuống trước tiên, hành đại lễ mà người Đàn quốc chỉ dùng với quốc chủ.
Ba nghìn người phía sau cũng đồng loạt quỳ xuống, cùng hô vang:
“Tham kiến điện hạ!”
Âm thanh va vào vách đá hết lần này đến lần khác, chấn động đến màng nhĩ tê dại.
Ta đi đến trước mặt sư phụ, đưa tay đỡ ông.
“Sư phụ, đứng lên đi.”
Ông ngẩng đầu, vành mắt đỏ bừng, giọng run rẩy.
“Công chúa, chúng ta đã đợi mười tám năm.”
“Con biết.”
“Cẩu hoàng đế c.h.ế.t có đủ đau đớn không?”
“Thất khiếu chảy m.á.u, độc phát công tâm.”
“Tốt!”
Ông đột ngột đứng dậy, quay người nhìn ba nghìn người kia, giơ cao cánh tay rồi hét lớn:
“Các huynh đệ! Kẻ thù đã c.h.ế.t, Túc quốc không còn vua. Đêm nay theo ta g.i.ế.c vào kinh thành, khôi phục Đàn quốc!”
Ba nghìn người đồng loạt hô vang như sấm.
“Khôi phục Đàn quốc!”
“Khôi phục Đàn quốc!”
Ta đứng lên một chiếc rương gỗ, chờ tiếng hô như sóng cuộn dần lắng xuống mới cất tiếng.
“Các vị thúc bá.”
Mọi ánh mắt lập tức hướng về phía ta.
“Ta là công chúa cuối cùng của Đàn quốc. Trong số các vị, có lẽ rất nhiều người hôm nay mới là lần đầu nhìn thấy ta.”
Trong hang im lặng đến mức kim rơi cũng có thể nghe thấy.
“Nhưng ta biết từng người trong số các vị. Những năm qua, sư phụ đã lần lượt kể tên mọi người cho ta nghe.”
Ta nhìn về phía đám đông.
“Đinh thúc, người vốn là hiệu úy trấn giữ cửa thành Đàn quốc. Ngày thành vỡ, người thủ đến giây phút cuối cùng, mất một cánh tay.”
“Lỗ bá, người vốn là thị vệ trong cung. Khi phụ vương còn sống, người thích nhất thương pháp của bá.”
Hai người được gọi tên đều đỏ mắt.
Một người thấp giọng nói:
“Điện hạ vẫn nhớ chúng ta.”
Ta nhìn bọn họ.
“Ta không nên quên, cũng không dám quên.”
Một lão nhân cụt một tay run rẩy đứng lên.
“Điện hạ! Dẫn chúng ta đ.á.n.h trở về đi! Ta tuy già rồi, nhưng vẫn có thể g.i.ế.c hai tên lính Túc quốc!”
Ngay sau đó, những người xung quanh cũng lập tức hưởng ứng.
“Đúng! Khôi phục Đàn quốc! Bắt chúng nợ m.á.u trả bằng m.á.u!”
Quần tình sôi sục.
Ta đợi bọn họ hô xong, đợi cả hang đá dần yên tĩnh trở lại rồi mới nói một câu:
“Ta sẽ không dẫn mọi người đi đ.á.n.h.”
Tiếng reo hò lập tức im bặt.
Sư phụ sững sờ tại chỗ, không dám tin nhìn ta.
“Con nói gì?”
“Con nói, chúng ta không đ.á.n.h nữa.”
“Vì sao?”
Giọng ông lập tức cao v.út.
“Con có biết mình đang nói gì không?”
“Kẻ thù đã c.h.ế.t hết rồi.”
Ta nhìn thẳng vào mắt ông.
“Thương Ngô chân nhân, Nghiêm Sùng Ngạn, Thạch Phá Sơn, còn có vị bệ hạ kia. Bốn món nợ, từng món một, con đều đã đòi đủ.”
“Vậy Đàn quốc thì sao!”
Mặt sư phụ đỏ bừng.
“Đất đai của Đàn quốc, bách tính Đàn quốc, cơ nghiệp Đàn quốc thì sao?”
Ta im lặng một lát rồi nói:
“Sư phụ, Đàn quốc đã mất hai mươi năm rồi.”
“Cho nên chúng ta mới phải khôi phục!”
“Khôi phục cái gì?”
Ta hỏi ông.
“Một tòa thành đã cháy thành tro? Một lá chiến kỳ đã bị xé nát? Hay một niên hiệu từ lâu chẳng còn ai nhớ?”
“Năm ấy khi thành vỡ, các vị mới ngoài hai mươi. Bây giờ đều đã ngoài bốn mươi. Mọi người đã lưu vong bên ngoài hai mươi năm, còn ai nhớ Đàn quốc hiện giờ thật sự là dáng vẻ gì?”
Lão nhân cụt tay ban nãy chậm rãi đứng lên.
“Điện hạ, ta từng lén quay về một lần.”
Ta nhìn ông.
“Người nhìn thấy gì?”
Ông im lặng một lúc mới đáp:
“Đất vẫn còn, ruộng vẫn còn, tường thành cũng còn, chỉ là lá cờ cắm trên thành lâu đã đổi.”
“Bách tính thì sao?”
“Bách tính vẫn như trước. Người cày ruộng thì cày ruộng, người buôn bán thì buôn bán, người đọc sách thì đọc sách. Nhưng lời họ nói từ lâu đã là lời của Túc quốc.”
Ta gật đầu.
“Họ mặc y phục Túc quốc, theo lễ nghi Túc quốc, cuộc sống ấy cũng đã kéo dài hai mươi năm. Trong số họ, nhà nào không có vài người thân mang huyết thống Đàn quốc? Trong mộ tổ nhà nào lại không chôn xương cốt người Đàn quốc?”
Ta quay sang sư phụ.
“Nếu đêm nay chúng ta g.i.ế.c vào thành, chúng ta đ.á.n.h ai?”
“Đánh lão hoàng đế đã c.h.ế.t sao?”
“Không. Ông ta đã c.h.ế.t rồi.”
“Người chúng ta đ.á.n.h sẽ là bách tính Túc quốc, là di dân Đàn quốc, là những người đang chảy dòng m.á.u Đàn quốc trong người.”
“Họ vô tội.”
Sắc mặt sư phụ từ đỏ chuyển trắng, rồi từ trắng chuyển xanh.
Ông gần như nghiến răng hỏi:
“Vậy những người Đàn quốc đã c.h.ế.t thì không vô tội sao?”
“Họ đã c.h.ế.t rồi. C.h.ế.t mười tám năm rồi.”
Ta nhìn ông.
“Những kẻ g.i.ế.c họ, con cũng đã lần lượt tiễn xuống dưới.”