13
Nhớ cha mẹ, ta liền trở về thư viện.
Mẫu thân vừa thấy ta thì thở dài rơi lệ, còn phụ thân vẫn điềm nhiên như thường.
Ông chỉ nói: "Con người phải có chí không chịu khuất phục. Nam t.ử là thế, nữ t.ử cũng nên như vậy."
Không còn phải tất bật quán xuyến việc nhà chồng và chuyện làm ăn, thời gian nhàn rỗi của ta cũng nhiều hơn.
Buổi sớm luyện chữ theo thiếp, buổi chiều đun trà đọc sách, tựa như lại trở về những năm tháng thiếu thời.
Mẫu thân ngồi bên cạnh vá lại chiếc áo bông cũ của ta thuở nhỏ. Ta nhìn đống y phục cũ trong chiếc giỏ, từ tã lót lúc còn nằm nôi cho đến xiêm y ngày xuất giá, mỗi một năm mẫu thân đều giữ lại một bộ.
Thỉnh thoảng bà lại chọn vài món đem ra giặt giũ, hong phơi rồi vá víu cẩn thận, nâng niu cất giữ như những bảo vật quý giá nhất.
Mẫu thân cầm một chiếc áo nhỏ, dịu dàng nói: "Bộ y phục này là lúc con mặc trong ngày làm lễ thôi nôi. Khi ấy người con bé xíu, mềm mại như nắm bột."
Ta hiểu rõ trong lòng bà vẫn luôn mang một nỗi tiếc nuối.
Đó là ta chưa từng có một đứa con của riêng mình.
Sau khi thành thân, ta một lòng một dạ chăm lo cho Túc Duật. Về sau lại bận gây dựng chỗ đứng nơi kinh thành, hết lần này đến lần khác trì hoãn chuyện sinh con.
Ta đưa tay vuốt lại mấy sợi tóc hơi rối bên thái dương của mẫu thân. Đầu ngón tay vô tình chạm phải một mảng tóc bạc ẩn dưới mái tóc đen, động tác của ta khựng lại trong thoáng chốc.
Rồi ta mỉm cười nói: "Được trở về ở bên mẫu thân thật tốt. Con lại có thể như thuở bé, vô ưu vô lo như một đứa trẻ."
Năm xưa sinh ta, mẫu thân bị băng huyết, suýt nữa mất mạng, từ đó phụ thân không muốn bà sinh thêm con nữa.
Tông thân nhiều lần khuyên nhủ: "Dẫu sao đệ cũng nên có một đứa con trai để nối dõi tông đường, huyết mạch không thể đoạn tuyệt."
Phụ thân chỉ bình thản đáp: "Huynh đệ của ta đông, cháu trai cũng nhiều, việc truyền nối huyết mạch đâu thiếu một mình ta."
Nhà ta chỉ có mình ta là độc nữ.
Ngày ta xuất giá, chẳng biết song thân đã luyến tiếc đến nhường nào.
May mà... Ta đã trở về.
Phụ thân từ thư trai bước ra, đặt bàn cờ lên chiếc bàn đá trong sân rồi mỉm cười nói:
"Làm một ván chứ?"
Ta đưa tay vê lấy quân cờ đen.
Giữa những lần hạ cờ, chỉ có tiếng quân cờ khẽ chạm mặt bàn cờ vang lên thanh thoát.
Thỉnh thoảng một cơn gió thoảng qua, lay rơi mấy đóa hoa quế, lặng lẽ điểm lên mép bàn cờ.
Phụ thân đã nhiều năm không đ.á.n.h cờ, mấy nước cờ đầu còn có phần lạ tay.
Nhưng càng đ.á.n.h, cảm giác năm xưa càng dần trở lại. Ông tung hoành trên bàn cờ, giao phong quyết liệt, từng nước cờ đều khiến người sảng khoái vô cùng.
Chẳng mấy chốc, nắng ấm đã ngả về tây.
Mẫu thân làm xong bữa tối, bước ra gọi hai cha con vào dùng cơm. Thấy chúng ta mải mê đ.á.n.h cờ đến quên cả thời gian, bà cũng không lên tiếng nữa, chỉ đứng dưới mái hiên lặng lẽ ngắm nhìn.
Phụ thân thu dọn những quân cờ cuối cùng rồi nói: "Kỳ nghệ của con... đã trầm ổn hơn trước."
Con người muốn trưởng thành, ắt phải trả giá.
Bởi vậy, trong ánh mắt ông vừa có niềm vui được an ủi, lại vừa chất chứa nỗi xót xa.
Mẫu thân bước đến cùng ta thu dọn quân cờ, khẽ nói: "Con trở về là tốt rồi."
Sống mũi ta bỗng cay cay, nhưng khóe môi vẫn nở một nụ cười.
Đêm ấy, ta lại nghe tiếng mưa rơi chợt nhớ đến đêm Đoan Ngọ năm nào, tiếng mưa khi ấy thê lương biết bao.
Mà giờ đây, ngay cả tiếng nước mưa chảy dọc mái hiên cũng như mang theo hơi ấm.
Có lẽ là vì ngọn đèn trong phòng của song thân ở gian nhà bên cạnh vẫn còn sáng.
Ánh đèn ấy hắt sang, mang đến cho ta một cảm giác bình yên và vững chãi đến lạ.
14
Một hôm rảnh rỗi, ta giở một quyển du ký ra đọc, trong lòng bất giác sinh lòng ngưỡng mộ cảnh khói mưa Giang Nam.
Lật thêm vài trang nữa, ta thấy trên đó chi chít những lời phê chú của phụ thân, giữa từng hàng chữ đều chất chứa niềm mong mỏi được một lần đặt chân đến nơi ấy.
Nay bản thân ta không còn điều gì vướng bận, song thân vẫn còn mạnh khỏe.
Thế là ta lập tức chạy đến thư phòng của phụ thân: "Cha, chúng ta đến Giang Nam đi."
Ông chỉ hỏi: "Bao giờ lên đường?"
Ta đáp: "Ngày kia."
Ông gật đầu: "Vậy thì ngày kia."
Chiếc xe ngựa phủ rèm xanh cứ thế xuôi dần về phương Nam.
Đến Tây Hồ, chúng ta thuê một tiểu viện bên hồ ở tạm. Mỗi ngày đều ngắm màn khói mưa bảng lảng phủ kín mặt nước, lại sưu tầm những đặc sản địa phương, mỗi thứ một ít gửi về kinh thành tặng các vị phu nhân của những thế gia.
Biết ta đang du ngoạn nơi phương xa, các vị ấy đều lần lượt hồi thư, bảo ta hãy viết lại những chuyện thú vị dọc đường rồi gửi cho họ.
Thế là ta đem những điều mắt thấy tai nghe trên suốt hành trình, cùng vẻ thanh nhàn, thi vị của khói mưa Giang Nam, chắp b.út thành những bức thư dài gửi về kinh thành.
Phu nhân của Thẩm đại nhân giữ chức Biên tu tại Hàn Lâm viện hồi thư cho ta:
"Phu quân ta đã đưa du ký của muội cho mấy vị Biên tu trẻ trong Hàn Lâm viện đọc. Họ đều nói văn chương dưới ngòi b.út của muội mang theo kiếm khí. Ta đọc vẫn chưa thấy thỏa, sau này nhớ viết thư cho ta nhiều hơn."
Cuối thư, bà còn viết thêm một đoạn:
"Ta cũng sẽ kể cho muội nghe thật nhiều chuyện thú vị ở kinh thành. Hiện có một chuyện thế này. Sau tiệc mừng thọ của Học sĩ lần trước, Hữu Trung Doãn đại nhân trở về chỉ lặng lẽ nạp Liễu thị làm thiếp, không hề mở tiệc khoản đãi.
Liễu thị nhẫn nhục bước qua cửa, nào ngờ mới biết cả trạch viện lẫn cửa hiệu Vân Cẩm đều đã thuộc về muội. Hai người lập tức cãi vã một trận long trời lở đất, đến cả hàng xóm chung quanh cũng nghe rõ mồn một."
Ta nhìn cái tên Túc Duật trên bức thư, bỗng thấy nó xa xôi như chuyện của một đời trước.
15
Năm sau, ta lại đến Lĩnh Nam.
Ta dựng một căn nhà tranh giữa rừng vải. Mùa hạ hái quả ủ rượu, mùa đông quây quần bên bếp lửa, chuyên tâm trước thuật.
Phụ thân cũng đem những tâm đắc trong suốt một đời dạy học của mình biên soạn thành sách.
Còn ta viết ‘Nhập Lĩnh Ký’ , viết rằng: "Chẳng mượn bóng ai che mưa lạnh, tự bén rễ sâu, hiên ngang giữa gò hoang."
Ta nhờ người mang thư cùng rượu vải do chính tay mình ủ gửi đến các vị phu nhân của những thế gia ở kinh thành.
Phu nhân của Triệu đại nhân, người có trưởng t.ử được phong Hựu Thứ t.ử, hồi thư cho ta:
"Rượu vải muội nhờ người mang đến, ngay cả phu nhân Thái phó uống xong cũng không ngớt lời khen. Ta không ngại nhiều đâu, sau này cứ gửi thêm cho ta vài vò nữa."
Cuối thư, giọng văn bỗng chuyển:
"Các vị phu nhân ở các phủ đều đã dặn dò hạ nhân, tuyệt đối không được đến hương phô của Liễu thị mua hương liệu. Cửa tiệm không có lấy một đồng thu vào, vậy mà nàng ta vẫn không bỏ được thói tiêu xài hoang phí. Bổng lộc của Hữu Trung Doãn đại nhân chẳng còn đủ chi dùng, hắn thường mượn rượu giải sầu, còn khóc lóc t.h.ả.m thiết trước mặt phu quân ta."
Lúc đọc bức thư ấy, ta đang cùng phụ thân hâm rượu nhâm nhi.
Nỗi bi thương của Túc Duật ta đã chẳng còn cách nào đồng cảm được nữa.