Mẫu thân siết khăn tay, lời nói càng thêm cung kính.
“Người vốn luôn thương nó, nó cũng hiểu thói quen của người, huống hồ… bệnh ho của Minh Nhu đã kéo dài hai năm, ở Lâm An có một vị đại phu rất giỏi chữa chứng này.”
Phụ thân cúi đầu uống trà, từ đầu đến cuối không nói đỡ cho ta một lời.
Mẫu thân lại là đích nữ của phủ Lễ bộ Thượng thư, con đường làm quan của phụ thân còn phải dựa vào thế lực nhà ngoại, nên trong nhà ông luôn nhường bà ấy vài phần.
Khi ấy ta không hiểu chuyện quan trường, chỉ biết rõ ràng ông nhìn thấy ta đứng sau tổ mẫu, nhưng vẫn không đưa tay về phía ta.
Tổ mẫu gọi mẫu thân một tiếng.
“Tô thị, mười ngón liền tim, sao ngươi có thể chỉ che chở một ngón?”
“Oản Ninh và Minh Nhu là tỷ muội cùng một mẹ sinh ra, hôm nay ngươi nhất quyết mang một đứa đi, để một đứa ở lại, ta không cản được.”
Bà nhìn mẫu thân, từng chữ nói rõ ràng.
“Hôm nay là chính ngươi buông tay, sau này đừng trách đứa trẻ không chịu quay đầu.”
Sắc mặt mẫu thân trắng bệch, nhưng vẫn không đổi ý.
Ngày xuất phát, trời âm u, tỷ tỷ khoác áo lông cáo mới ngồi lên xe ngựa, còn thò đầu ra cười với ta.
“Muội muội, đợi tỷ đến Lâm An sẽ gửi tranh đường về cho muội.”
Ta quay người chạy vào phòng tổ mẫu.
Tổ mẫu vừa đặt b.út xuống, ta liền lao vào lòng bà, khóc đến mức không thở nổi.
Bà không khuyên ta phải hiểu chuyện, chỉ từng chút từng chút vỗ lưng ta.
“Cứ khóc đi, muốn khóc bao lâu cũng được.”
Đợi tiếng khóc của ta nhỏ dần, bà lấy khăn lau sạch mặt cho ta.
“Oản Ninh nhớ kỹ, tổ mẫu ở đây, vẫn luôn ở đây.”
Đêm ấy, gối và rương quần áo của ta đều được chuyển vào viện tổ mẫu.
Tiếng xe ngựa ngoài tiền viện đã sớm không còn nghe thấy, ta dựa vào tổ mẫu ngủ thiếp đi, dần dần cũng không còn nhớ đến mẫu thân nữa.
Tổ mẫu ở một viện sâu trong phủ, hai cây hòe già che khuất nửa mái hiên, xuân hạ rắc bóng lá loang lổ khắp sân.
Tổ mẫu dạy ta nhận chữ, cũng dạy ta phân biệt d.ư.ợ.c liệu.
Thuở trẻ bà từng theo tổ phụ sống nhiều năm ở nơi nhậm chức, những chứng phong hàn thông thường hay thương tích do té ngã, va đập, bà đều có thể nhìn ra đại khái.
Ta viết hỏng một trang chữ, bà bảo ta viết lại nhưng chưa từng nói ta ngu ngốc; ta nhận nhầm hoàng kỳ thành cam thảo, bà liền bẻ một đoạn nhỏ cho ta ngửi, rồi bảo ta nhắm mắt phân biệt.
“Nữ nhi biết thêm một thứ, đến lúc gặp khó khăn sẽ có thêm một con đường.”
Ta ghi nhớ lời ấy thật kỹ, những ngày tháng sau đó cũng dần trở nên vững vàng.
Mỗi tháng vào ngày mồng một, tổ mẫu đều dẫn ta đến Thanh Phạn Tự ngoài thành lễ Phật.
Lần đầu ta gặp Bùi Nghiễn Chu là ở hậu viện Thanh Phạn Tự.
Hôm ấy tổ mẫu đang nói chuyện với trụ trì, ta ngồi đến buồn chán, bèn lén một mình ra mé rừng trúc xem chiếc diều giấy mắc trên ngọn cây.
Trên đầu bỗng vang lên một tiếng, một quả thông rơi trúng b.úi tóc ta, khiến cây trâm lệch xuống tận bên tai.
Ta ôm đầu quay lại, nhìn thấy một thiếu niên áo xanh đang ngồi trên tường, trong tay còn hai quả thông.
Hắn nhảy xuống tường, lúc chạm đất suýt giẫm phải vạt áo, phải vịn vào cây trúc mới đứng vững.
Ban đầu ta rất tức giận, nhưng thấy bộ dạng chật vật ấy lại suýt bật cười.
Hắn như không nhìn thấy sắc mặt ta, ngẩng đầu chỉ lên ngọn cây.
“Chiếc diều kia mắc nửa canh giờ rồi, có gì đáng xem, ngươi nhìn ta còn náo nhiệt hơn.”
“Nếu ngươi ngã thêm một lần nữa thì quả thật sẽ náo nhiệt hơn.”
Thiếu niên nghẹn lời một thoáng, sau đó cười đến vai rung lên.
“Ngươi là cô nương nhà ai, miệng lưỡi lợi hại thế?”
“Còn công t.ử nhà ai lại lấy quả thông ném người?”
Hắn sờ mũi, lấy từ trong tay áo ra một gói điểm tâm nhét cho ta.
“Gói bánh hạt dẻ này đền cho b.úi tóc của ngươi, được không?”
Ta không nhận, hắn liền đặt gói giấy lên bàn đá bên cạnh, vừa lùi vừa đi mấy bước.
“Ta tên Bùi Nghiễn Chu, lần sau đến chùa, nếu ngươi vẫn còn giận thì ta đền thêm một gói nữa.”
Sau khi hắn chạy xa, ta mới bẻ một góc bánh hạt dẻ nếm thử.
Vỏ bánh vụn rơi lả tả trên mu bàn tay, nhân bên trong vẫn còn ấm.
Lần thứ hai gặp nhau, hắn xách một chiếc l.ồ.ng dế đứng chờ ở đầu hành lang.
Ta chê tiếng dế ồn ào, hắn lại ghé sát tai ta bắt chước tiếng dế kêu, một tiếng quái hơn một tiếng.
Ta không nhịn được bật cười, hắn lập tức đắc ý.
“Ngươi cười rồi, con dế này không uổng công ta bắt.”
“Ai nói ta bị nó chọc cười?”
“Vậy thì là ta có bản lĩnh.”
Hắn giấu chiếc l.ồ.ng ra sau lưng, sợ ta thật sự ghét, ngoài miệng vẫn cố cứng.
“Nếu ngươi không cần, ta mang về cho nó đọc sách cùng ta.”
“Nó nghe hiểu sao?”
“Hiểu hơn ta, ta vừa nhìn sách đã buồn ngủ, nó còn biết kêu hai tiếng.”
Mùa đông lại đến chùa, vườn mai sau chùa đã phủ tuyết.
Bùi Nghiễn Chu ôm một cành hồng mai chui ra từ sau thân cây, vai và tóc đều dính tuyết, ch.óp mũi lạnh đến đỏ bừng.
“Cành cao nhất đấy, ta tự tay bẻ xuống.”
Ta nhìn lên tán cây cao v.út.
“Ngươi lại trèo cây?”
“Đây là vườn mai của phủ Định Viễn Hầu, ta trèo cây nhà mình, ai dám thu bạc của ta?”
Lúc ấy ta mới biết hắn là con trai độc nhất của Định Viễn Hầu.
Hầu gia quanh năm lĩnh binh ở phương bắc, Hầu phu nhân không quản nổi đứa con độc đinh này, hắn thường ba hôm hai bữa theo mẫu thân đến chùa, nhân lúc không ai để ý lại chạy ra hậu viện.