Huyện lệnh giơ tờ giấy lên cho mọi người xem.
Tiếng reo hò ngoài công đường vang đến rung cả mái ngói.
Tống Hoài Cẩn còn định nói tư ấn của mình từng bị mất, nhưng tiểu tư đã dập đầu nhận tội ngay tại công đường, khai trong túi bạc là tiền đặt cọc, phần còn lại hẹn sau khi xong việc mới trả.
Cuối cùng hắn ngồi bệt xuống đất.
Thế mà khi nhìn ta, trên mặt hắn vẫn mang vẻ tủi thân.
“Oản Ninh, nàng nhất định phải ép ta đến c.h.ế.t sao?”
Ta đứng dưới công đường, xòe bàn tay phải quấn băng ra.
“Cửa là ngươi sai người khóa, dầu là ngươi sai người đổ.”
“Bây giờ ta còn sống bước lên công đường, sao lại thành ta ép ngươi?”
Huyện lệnh đập kinh đường mộc.
“Nhân chứng vật chứng đầy đủ, không được gào thét nơi công đường!”
Tống phu nhân ở ngoài khóc lóc, cầu ta nói giúp Tống Hoài Cẩn một câu.
Thím Đào túm một nắm rau thối nhét vào miệng bà ta.
“Oản Ninh nhà chúng ta mạng lớn, không có nghĩa con trai bà chưa từng g.i.ế.c người.”
“Mặt Tống gia các người làm bằng tường thành à?”
“Dao kề cổ người khác mà còn chê người ta kêu đau?”
Giữa tiếng cười mắng của bá tánh, Tống Hoài Cẩn bị tháo ngọc quan, đeo gông.
Hắn coi trọng thể diện nhất.
Lúc bị áp giải ra khỏi huyện nha, hắn luôn cúi đầu, không dám nhìn bất cứ ai.
Đi đến cửa huyện nha, hắn bỗng giãy khỏi sai dịch, cách đám đông gọi tên ta.
“Oản Ninh, ta chỉ là quá yêu nàng!”
Ta nhặt một mảnh biển hiệu cháy đen bên bậc thềm, ném xuống chân hắn.
“Ngươi luôn miệng nói yêu ta, thật ra chỉ yêu Hứa Oản Ninh từng mặc ngươi chà đạp mà vẫn đứng nguyên chỗ cũ chờ ngươi.”
“Nàng ấy đã c.h.ế.t trong trận mưa ba năm trước rồi.”
Hồ sơ vụ án được chuyển lên phủ nha phúc thẩm.
Tống Hoài Cẩn bị phán trượng hình, phát phối Lĩnh Nam sung quân.
Chưa đợi tới ngày áp giải, hắn đã phát bệnh phổi trong ngục, chỉ đành tạm giam ở phủ lao Dư Châu, đợi bệnh tình nhẹ đi mới lên đường.
Tống phu nhân bán mấy món trang sức cuối cùng trên người, miễn cưỡng tiếp tục mua t.h.u.ố.c cho hắn.
Về sau có người nói ban đêm hắn ho đến mức cả phòng giam không ai ngủ được, cũng có người nói hắn vẫn nhờ ngục tốt gửi thư tới tiệm Trường Ninh.
Không một bức thư nào tới tay ta.
Sau khi án phóng hỏa xử xong, ta trở về cửa tiệm cháy đen.
Hai gian kho chỉ còn tường cháy sém, chum nhuộm vỡ đầy đất, trong không khí toàn mùi tro ướt và lụa khét.
Ta ngồi xổm trước đống đổ nát, lần đầu tiên cảm thấy mệt đến mức không đứng dậy nổi.
Cánh tay trái của Thẩm Nghiễn Thu cũng bị lửa sém, vậy mà chàng im lặng chuyển xà gỗ gãy sang bên.
Ta kéo chàng lại.
“Đừng chuyển nữa.”
“Ngày mai hẵng nói.”
Chàng quay đầu nhìn ta, đặt khúc gỗ xuống rồi ngồi cạnh ta trên bậc thềm.
“Vậy nghỉ một lát.”
Chẳng bao lâu sau, đầu ngõ vang lên tiếng bánh xe.
Bá Khâu chở tới hai xe gỗ.
Thím Đào mang cơm, tẩu Trần ôm rèm vải mới cắt, tẩu Chu dẫn người khiêng tới bảy chiếc nồi nhuộm mượn được.
Những người hàng xóm từng được chúng ta giúp vào năm lũ lụt gần như đều tới.
Người trộn bùn, người xây tường, người kiểm lại dây đồng còn dùng được.
Tiên sinh học đường dẫn đám trẻ nhặt ngói vỡ.
Lão phu nhân, mẫu thân của giáo dụ huyện học, cũng sai người mang bạc tới, nói muốn đặt trước một cây hoa cho tiệc thọ năm sau.
Ta không chịu nhận bạc quyên góp, mọi người liền tranh nhau đặt hàng.
Thím Đào đặt mười đóa thạch lựu, nói muốn tặng cho những nàng dâu thường tới mua đậu phụ.
Bá Khâu một hơi đặt cả hộp đầy nhung hoa nhỏ, còn tuyên bố sau này cô nương nào đi thuyền của ông đều được nhận một đóa.
Ngay cả lão Vu bán quan tài cũng tới đặt hai chậu cúc trường thọ.
“Ta nói trước, không bày ở tiệm quan tài.”
“Cho lão thái thái nhà ta, bà ấy chê tiệm của ta xúi quẩy.”
Mọi người cười ầm cả lên.
Ta ngồi giữa đống tro, tay còn quấn băng, vậy mà bị nhét vào tay một xấp đơn hàng dày cộp.
Thẩm Nghiễn Thu cúi đầu giúp ta đếm.
“Đủ cho chúng ta bận tới đầu xuân.”
Ta khịt mũi.
“Nếu làm không hết thì sao?”
A Mãn giơ tấm bảng tiến độ mới vẽ.
Tên những phụ nhân làm hoa xếp ngay ngắn từng hàng.
Sau mỗi người đều có dấu tay đỏ.
Dưới cùng viết bốn chữ.
“Cùng nhau làm xong.”
Trời còn chưa sáng, tiếng b.úa xây lại kho đã vang lên.
Đợi vôi trên tường khô hẳn, tiệm nhung hoa Trường Ninh lại mở cửa.
Biển hiệu mới vẫn dùng tấm gỗ cũ từng bị cháy.
Thẩm Nghiễn Thu bào lớp cháy đen bên ngoài đi, hai chữ “Trường Ninh” bên trong vẫn nguyên vẹn.
Chàng chỉ khắc thêm một vòng hoa văn lửa nhỏ quanh cành nghênh xuân ấy.
Ta hỏi vì sao giữ lại.
Chàng nói.
“Dễ nhận.”
“Sau này ai nhìn thấy cũng biết đây là cửa tiệm lửa thiêu không cháy.”
Ngày kho sửa xong, Hứa Trường Thuận tự mình đi tới đầu ngõ.
Tuy đi rất chậm, gậy cũng không rời tay, nhưng suốt đường không để ai dìu.
Tối ấy, ông gọi ta vào phòng, lấy dưới gối ra một quyển sổ cũ.
Trên sổ ghi toàn bộ tiền t.h.u.ố.c những năm qua.
Ngày nào bốc mấy thang t.h.u.ố.c, ngày nào mời lang trung, ngay cả bát canh gừng ta mua cho ông trên đường chạy nạn cũng được ghi lại.
“Cha ghi thứ này làm gì?”
Hứa Trường Thuận không nhìn ta, chỉ dùng ngón tay thô ráp vuốt phẳng mép giấy cuộn.
“Cha vẫn nghĩ đợi chân khỏi rồi sẽ từ từ trả cho con.”
Ta giật lấy quyển sổ, ném thẳng vào chậu than.
Ông vội đưa tay định vớt, bị ta ngăn lại.
Mé giấy cuộn lên sắc đỏ, chữ mực nhanh ch.óng co lại thành tro.
Ông nhìn ngọn lửa, nước mắt từng giọt rơi xuống đầu gối.
“Hứa Trường Thuận, lúc cha cứu người làm trong xưởng nhuộm, cha có bắt hắn trả mạng không?”