Những ngày tháng đầu tiên ở Vân La Sơn đối với ta quả thực vô cùng gian nan, khổ cực. Người ta thường bảo thầy t/h/u/ố/c như mẹ hiền, thế nhưng Đồ lão đầu đừng nói là tấm lòng cha mẹ, ngay cả nửa điểm đồng tình trắc ẩn cũng chẳng có. Ngày nào lão cũng bắt ta thử độc, chỉnh ta đến mức sống dở c/h/ế/t dở. Thảm hại nhất là có một lần sau khi lão cho ta uống t/h/u/ố/c giải mà ta vẫn không tỉnh lại, lão cứ ngỡ ta đã hết t/h/u/ố/c chữa, bèn dùng một chiếc chiếu rách quấn c/h/ặ/t lấy ta, đẩy chiếc xe cút kít định đem ta vứt ra bãi tha ma. Cũng may nhờ có Tiểu Bát đáng yêu (chính là con vẹt nhỏ kia), chẳng biết có phải vì tên ta là Thất còn tên nó là Bát hay không mà nó rất thân thiết với ta, không nỡ rời xa ta, thế là nó cứ bay vòng quanh mổ tới tấp vào đầu Đồ lão đầu, nhất quyết không cho lão đẩy ta đi. Đồ lão đầu hết cách, bận rộn xua đuổi Tiểu Bát, thế rồi ta từ từ hồi tỉnh lại.
Kể từ sau lần đó, Đồ lão đầu không bắt ta thử độc nữa. Ta cứ ngỡ lão đã hồi tâm chuyển ý c/ắ/n rứt lương tâm, mãi sau này ta mới biết, phàm là người uống phải loại độc d/ư/ợ/c ấy mà vẫn có thể sống sót trở về thì từ đó về sau cơ thể sẽ đạt tới cảnh giới bách độc bất xâm. Thế nhưng lão lại càu nhàu bảo thầy t/h/u/ố/c không thể tự chữa bệnh cho mình, bắt ta phải theo lão học y. Ta tính toán thấy nhàn rỗi cũng chẳng có việc gì làm, bèn đàng hoàng dâng một chén trà bái lão làm sư phụ, an tâm ở lại dốc lòng học tập.
Ta dần quen với cuộc sống thanh tịnh trên Vân La Sơn, phần lớn thời gian đều theo chân Đồ lão đầu chữa bệnh cứu người, những lúc rảnh rỗi thì trêu đùa Tiểu Bát, cãi nhau tay đôi với Đồ lão đầu, lấy hoa thông ủ rượu, dùng tuyết tan trên đỉnh núi pha trà, tháng ngày trôi qua cũng vô cùng ung dung tự tại.
Chỉ là thỉnh thoảng mỗi dịp lễ tết, ta đứng dưới gốc cây hòe cổ thụ phóng tầm mắt nhìn ra xa, trông thấy nơi phương xa mịt mờ le lói vài đốm sáng nhân gian, lại không kìm được lòng mà hoài niệm sự phồn hoa náo nhiệt chốn hồng trần, lại nhớ nhung bóng hình người xưa chôn c/h/ặ/t nơi đáy tim.
Con người ta vốn dĩ xưa nay luôn thích sự náo nhiệt, ghét cảnh cô quạnh quẽ lạnh.
Dạo gần đây Đồ lão đầu lại lên cơn thèm rượu, lão uống rượu hoa thông do ta tự tay ủ mà cứ chê ỏng chê eo không vừa ý.
Theo như lời lão tự kể, trước khi lão thành danh, có một lần tình cờ được nếm thử rượu Tân Phong, từ đó về sau cứ nhớ mãi không nguôi hương vị ấy. Đáng tiếc là sau này khi đã thành danh vang dội thiên hạ, vì muốn duy trì vẻ thần bí cao thâm nên không thể t/ùy tiện xuống núi, đành phải sống trong hồi ức để hoài niệm phong vị năm nào.
Thật ra Đồ lão đầu không chịu xuống núi chẳng phải vì muốn giữ vẻ thần bí gì cho cam, mà là vì lão mắc chứng sợ giao tiếp xã hội, sợ đối mặt với đám đông.
Thế nhưng một ngày là thầy cả đời là cha, ta bèn tự phong mình làm chân chạy việc, xung phong thay lão đến thành Tân Phong mua rượu một chuyến. Đồ lão đầu mừng rỡ nhảy cẫng cả lên, ngay đêm hôm đó lão thắp rất nhiều ngọn lửa ma trơi xanh lè trên núi bảo là mời ta và Tiểu Bát cùng thưởng ngoạn cảnh đẹp. Ta vội vàng thu dọn hành lý ngay trong đêm, sáng hôm sau che một tấm mạng sa mỏng rồi lập tức xuống núi, lại mang theo cả Tiểu Bát đi cùng, cái con của nợ này bây giờ ta đi đến đâu là nó lẽo đẽo bay theo đến đó.
Hôm đến thành Tân Phong, vừa vặn rơi đúng vào tiết Xuân phân tuyệt đẹp, vạn vật đ/â/m chồi nảy lộc, non sông bừng tỉnh giấc nồng.
Vừa bước vào thành, rặng liễu thướt tha mềm mại, cỏ non mơn mởn chim oanh bay lượn, muôn hoa đua nhau khoe sắc rực rỡ, khiến tâm trạng người ta nhìn vào cũng thấy vui vẻ, rạng ngời.
Bước vào khu chợ trung tâm, trên con đường phía trước đang diễn ra màn diễu hành múa lân sư rồng, tiếng trống tiếng nhạc vang dội trời mây, dòng người chen lấn xô đẩy đông như nêm cạn, xe ngựa chạm trổ lộng lẫy qua lại tấp nập, đường xá bị vây kín đến mức nước chảy không lọt.
Ta vốn tính ham vui, định chen chân lên phía trước xem náo nhiệt, nhưng người quá đông căn bản không thể chen vào nổi, đến cả giày cũng bị giẫm tụt ra ngoài. Tiểu Bát nhẹ nhàng vỗ cánh bay v/út qua xem trò vui, lúc ta còn đang lúi húi nhặt lại chiếc giày thì nó đã bay trở về, đậu lên vai ta ríu ra ríu rít bắt chước tiếng chiêng tiếng trống, khiến đầu óc ta ong ong cả lên.
Đúng lúc này, cỗ xe ngựa bị tắc đường phía trước bỗng dừng bánh, có người vén rèm xe bước xuống, rẽ sang con phố bên cạnh. Người đó đứng nghiêng mình quay lưng về phía ta, ta vô tình liếc mắt nhìn qua, ánh nắng xuân mờ ảo như làn sương mỏng, khẽ phác họa nên bóng hình m/ô/n/g lung của người ấy: hắc y thêu chỉ vàng lộng lẫy, đường nét tuấn tú cương nghị, ngũ quan khôi ngô xuất chúng.
Ngoài Lục Diêm ra thì còn có thể là ai được nữa?
Dòng người xung quanh vẫn chen chúc qua lại, nhưng đôi chân ta lại như bị chôn c/h/ặ/t tại chỗ, không thể nhấc nổi một bước.
“Thất Thất, mua rượu, mua rượu...”
Tiểu Bát bỗng nhiên cất tiếng hét toáng lên, ta giật b/ắ/n mình, vội vàng ôm c/h/ặ/t lấy Tiểu Bát, vòng ra phía sau chỗ vắng người ngồi thụp xuống, tim đập thình thịch như muốn nhảy ra ngoài. Ta không kìm được lắc đầu tự cười nhạo chính mình, hốt hoảng bối rối, bỏ chạy trối c/h/ế/t, hóa ra ta trước sau vẫn là một kẻ vô dụng, nhát gan đến thế.
Tiểu Bát tiếp tục nhảy nhót loi nhoi trong lòng bàn tay ta: “Thất Thất, đi mua rượu! Đi mua rượu!”
“Đi đi đi, đồ sâu rượu nhà ngươi.”
Ta tìm đến một t/ửu điếm lâu đời để mua rượu. Gã tiểu nhị vô cùng nhiệt tình, hắn bảo ta hôm nay đã đến thành Tân Phong thì nhất định phải ghé qua Nhị Thập Tứ Kiều một chuyến. Ngày này nam thanh nữ tú chưa thành thân trong thành đều rủ nhau ra ngoài du xuân đạp thanh, người thì chèo thuyền dạo chơi trên Thiên Đảo Hồ dưới chân cầu, kẻ lại ngắm nhìn cảnh tượng liễu bay như tuyết rơi trên Nhị Thập Tứ Kiều. Nếu người trên cầu nhìn xuống thuyền dưới hồ thấy vừa mắt ai thì có thể bẻ cành liễu, ngắt cành hoa ném xuống sàn thuyền của đối phương; nếu người trên thuyền cũng vừa ý thì sẽ neo thuyền cập bờ, mời người ném cành liễu trên cầu cùng lên thuyền du ngoạn lòng hồ, cùng nhau thưởng thức cảnh đẹp ngày xuân.
Nghe qua thấy vô cùng thú vị, mua rượu xong xuôi ta liền kéo nhau lên Nhị Thập Tứ Kiều xem trò vui.
Phía xa núi xanh mờ mờ ảo ảo, gần mặt hồ thì khói sóng mênh m/ô/n/g, sương mù lãng đãng bao phủ, hai mươi tư nhịp cầu thoắt ẩn thoắt hiện. Muôn vàn rặng liễu rủ mềm mại thướt tha, yểu điệu tựa như vòng eo của thiếu nữ tuổi trăng tròn. Từng dải tơ liễu bay rợp trời phất phơ trên mặt hồ, len lỏi giữa những con thuyền hoa và vương vấn trên từng nhịp cầu, phả vào mặt tựa như mưa tuyết giăng đầy trời, trắng xóa một màu tinh khôi. Cảnh sắc này nửa như chốn nhân gian, lại nửa như cõi bồng lai tiên cảnh.
Ta đứng trên bờ Bạch Sa Đê ven hồ ngắm nhìn, nhất thời ngây ngất xuất thần.