Ta đặt phần án lục kia trước mặt bà.
“Mẫu thân, vụ án gạo mốc của Thẩm gia Giang Châu, rốt cuộc là chuyện gì?”
Huyết sắc trên mặt mẫu thân ta từng chút rút đi.
Ngón tay bà run rẩy, chạm lên tờ giấy cũ ấy.
Qua một lúc, bà mới nói: “Ngoại tổ của con không bán gạo mốc.”
Câu này vừa thốt ra, nước mắt bà đã rơi xuống.
“Gạo của Thẩm gia, đều là mẫu thân tận mắt nhìn nhập bao, năm ấy Giang Châu gặp thủy tai, nghĩa thương thúc giục gấp, ngoại tổ con đã lấy gạo mới tốt nhất trong nhà ra.”
“Nhưng thuyền gạo đến kho Lăng Thủy, khi mở kho, lại biến thành gạo cũ.”
Ta nín thở, giọng mẫu thân ta run lên: “Ngoại tổ con đi kêu oan, không ai nghe, Chuyển vận ty nói thẻ thuyền đầy đủ, ấn kho đầy đủ, Thẩm gia có chối cũng vô dụng.”
Bùi Quan Lễ hỏi: “Sổ sách cũ còn không?”
Mẫu thân ta ngẩng đầu nhìn hắn.
Bà dường như do dự một chút.
Ta nắm lấy tay bà: “Mẫu thân.”
Bà nhắm mắt lại, cuối cùng đứng dậy, kéo từ dưới gầm giường ra một chiếc rương gỗ cũ.
Dưới đáy rương đè một chiếc hộp nhỏ.
Trong hộp là một xấp trang sổ đã ố vàng, một tấm thẻ gỗ gãy làm đôi, còn có một tấm thẻ thuyền viết bằng chữ m.á.u.
Mẫu thân ta đưa thẻ thuyền cho ta: “Đây là thứ ngoại tổ con trước khi c.h.ế.t sai người đưa tới.”
Ta cúi đầu nhìn xuống, trên thẻ thuyền chỉ có bốn chữ.
【Gạo ở giữa đường.】
23
Bốn chữ ấy, ta nhìn suốt cả đêm.
Nếu gạo bị tráo giữa đường, vậy thì năm ấy thứ ngoại tổ giao ra là gạo mới, nhưng thứ kho Lăng Thủy nghiệm ra lại là gạo cũ.
Ở giữa nhất định có một nơi đổi kho.
Ta trải từng trang sổ cũ ra.
Bùi Quan Lễ ngồi đối diện ta, không thúc giục, cũng không khuyên ta đi ngủ.
Hắn chỉ khi thấy mắt ta mỏi cay, đẩy chén nước mật đến trước mặt ta.
Khi trời sắp sáng, cuối cùng ta dừng lại ở một trang sổ ghi phí thuyền: “Chỗ này không đúng.”
Bùi Quan Lễ ngẩng mắt, ta chỉ cho hắn xem.
“Từ Giang Châu đến kho Lăng Thủy, đường thủy ba trăm hai mươi dặm, nếu giữa đường không dừng kho, tiền cước nước không nên nhiều thêm khoản bạc neo đêm này.”
Bùi Quan Lễ nhìn trang sổ, “Bạc neo đêm.”
“Đúng, thuyền chỉ khi đêm đến cập bến, mới phải trả khoản tiền này cho người giữ bến.”
“Cập ở đâu?”
Ta lật đến trang tiếp theo, tim dần đập nhanh hơn.
Ở góc trang ấy có một dấu mực cực nhạt, giống như năm đó tiên sinh phòng thu chi sợ bị phát hiện, cố ý chỉ đóng một nửa.
Ta nhận ra một lúc lâu, mới đọc được: “Thanh Thạch Độ.”
Bùi Quan Lễ đứng dậy đi lấy dư đồ.
Thanh Thạch Độ không nằm trên chính tuyến từ Giang Châu đến kho Lăng Thủy, nó lệch đi mười bảy dặm, mà vùng ấy hai mươi năm trước thuộc quyền quản của Phó sứ chuyển vận Giang Nam.
Bùi Quan Lễ nhìn dư đồ, trầm giọng nói: “Nhạc gia của Hạ Sùng Minh có kho ở Thanh Thạch Độ.”
Ta nhìn Thanh Thạch Độ trên dư đồ, hồi lâu không nói gì.
Đây không phải một vụ án cũ, mà là một tấm lưới đã giăng suốt hai mươi năm.
Bọn họ dùng gạo mới của Thẩm gia tráo thành gạo cũ, Thẩm gia gánh tội danh gạo mốc, gia sản bị phạt tịch thu, ngành gạo bị chia nhau nuốt sạch, nay Tống gia cống mễ trộn lương cũ, chẳng qua là cùng một thủ đoạn được làm lại lần nữa.
Ta lẩm bẩm: “Chẳng trách Hạ Sùng Minh vội vàng muốn đá chàng ra ngoài.”
Bùi Quan Lễ nhìn ta.
“Bởi vì nàng nhận ra gạo, cũng nhận ra sổ sách.”
Ta giật giật khóe môi, trước kia người khác nói ta đầy mùi tiền đồng.
Nhưng đến cuối cùng, thứ có thể bóc trần vụ án cũ này, lại chính là sổ sách và hạt gạo mà bọn họ khinh thường nhất.
Sau khi trời sáng, Trưởng công chúa sai người đưa tin tới.
Ba ngày sau, thiết lập vấn trướng cục ở Đại Lý tự.
Hộ bộ, Lễ bộ, cựu lại Chuyển vận ty đều sẽ có mặt.
Trưởng công chúa chỉ hỏi một câu.
“Bùi phu nhân, có dám làm chứng không?”
Ta nhìn tấm thiếp ấy, rất lâu không nói gì.
Bùi Quan Lễ đứng bên cạnh ta.
“Nàng có thể không đi.”
Ta lắc đầu: “Ta đi.”
“Nơi đó không phải noãn các của Trưởng công chúa, Hạ Sùng Minh sẽ trước mặt mọi người nhục nhã nàng, cũng sẽ lấy xuất thân của nàng ra nói chuyện.”
“Ta biết.”
Bùi Quan Lễ nhìn ta: “Vậy vì sao còn đi?”
Ta gấp lại tấm thẻ thuyền bằng m.á.u của ngoại tổ, đặt vào trong tay áo.
“Bởi vì mẫu thân ta đã cúi đầu nửa đời, ta muốn thay bà ngẩng đầu một lần.”
24
Ngày vấn trướng cục diễn ra, kinh thành đổ mưa lạnh.
Bên ngoài chính đường Đại Lý tự đứng đầy người.
Khi ta xuống xe ngựa, nghe thấy có người thấp giọng bàn tán: “Đây chính là Bùi phu nhân sao, nghe nói là nữ nhi thương hộ, một phụ nhân nội trạch, vậy mà cũng dám đến hỏi sổ quốc lương?”
Thanh Hòa tức đến mặt đỏ bừng.
Ta lại bỗng không còn sợ đến vậy.
Những lời này ta đã nghe quá nhiều lần.
Từ Tống gia đến kinh thành, từ bàn cơm đến yến tiệc, bọn họ nói đi nói lại cũng chỉ có mấy câu ấy: nữ nhi thương hộ, mùi tiền đồng, không hiểu quy củ.
Nhưng hôm nay ta không đến để khiến bọn họ thích ta.
Ta đến để tính sổ.
Bùi Quan Lễ cùng ta đi đến trước bậc thềm.
Theo lệnh tránh hiềm nghi, hắn không thể vào đường chủ thẩm, chỉ có thể ngồi ở ghế dự thính.
Hắn chỉnh lại áo choàng cho ta, thấp giọng nói: “Nếu có người ép nàng trả lời những lời nàng không muốn đáp, hãy nhìn ta.”
“Nhìn chàng thì có ích sao?”
“Ta sẽ thay nàng ghi lại.”
Ta suýt nữa bật cười.
Đã đến lúc này rồi, hắn vẫn chỉ biết nói những lời nghiêm túc như vậy.
Khi ta bước vào đường, Hạ Sùng Minh đã ngồi ở chỗ của Lễ bộ.
Ông ta hơn năm mươi tuổi, gương mặt gầy gò, râu ria được tỉa tót chỉnh tề, nhìn không giống tham quan, ngược lại giống một vị tiên sinh đã đọc sách thánh hiền cả đời.
Ông ta ngẩng mắt nhìn ta, trong ánh mắt không có giận dữ, chỉ có một sự khinh miệt rất nhạt: “Bùi phu nhân.”
“Hôm nay hỏi sổ, là công sự triều đình, phu nhân tuy được Trưởng công chúa đề cao, cũng nên biết chừng mực.”
“Biết.”