31
Đêm ấy, Bùi Quan Lễ và ta đều không ngủ.
Hắn ngồi dưới ánh đèn, vẽ lại một lượt bản đồ cũ của Thanh Thạch Độ.
Đường nước nào dễ giấu thuyền, kho cũ nào có cửa sau, đoạn bến nào ban đêm không có người canh giữ, đều được hắn dùng b.út son khoanh lại tỉ mỉ.
Ta nằm bò bên án nhìn hắn vẽ bản đồ: “Có phải chàng hối hận vì đã dạy ta tra sổ rồi không?”
Đầu b.út của Bùi Quan Lễ khựng lại: “Không có.”
“Trông chàng rất giống đang hối hận.”
Hắn ngẩng mắt, đáy mắt có tơ m.á.u: “Ta chỉ sợ.”
Đây là lần đầu tiên ta nghe hắn chính miệng nói sợ.
“Sợ ta xảy ra chuyện?”
“Ừ.”
“Vậy chàng còn để ta đi?”
Hắn đặt b.út son xuống, qua một lúc mới nói: “Vì nàng nói đúng, ta không thể một mặt nói nàng có bản lĩnh, một mặt lại chỉ cho phép nàng có bản lĩnh ở nơi an toàn.”
Hắn lấy từ trong tay áo ra một chiếc còi đồng nho nhỏ, đặt vào lòng bàn tay ta: “Đây là thứ ám vệ Đại Lý tự dùng, gặp nguy hiểm thì thổi.”
Ta cố ý hỏi: “Như vậy cũng hợp lễ sao?”
“Không hợp.” Hắn dừng một chút, “Nhưng hôm nay ta không muốn giảng lễ.”
Ta cất kỹ chiếc còi đồng, lại gấp bản đồ hắn vẽ bỏ vào chiếc hộp tùy thân.
Trước khi đứng dậy về phòng, hắn bỗng gọi ta lại: “Tống Tri Ninh.”
Ta quay đầu, nhìn thấy hắn đứng dưới ánh đèn, vạt áo vẫn ngay ngắn chỉnh tề, giọng nói lại khàn hơn thường ngày một chút: “Sống mà trở về.”
Ta cười nói: “Đợi ta về, chàng phải bóc cho ta cả một đĩa hạt dẻ.”
Hắn đáp rất nhanh: “Được.”
32
Cuối cùng, người đến Thanh Thạch Độ không chỉ có một mình ta.
Trưởng công chúa phái nữ quan trong phủ đi cùng, Đại Lý tự phái hai ám vệ, Bùi Quan Lễ dặn Thanh Hòa không được rời khỏi ta nửa bước.
Bản thân hắn không thể đi, lệnh tránh hiềm nghi vẫn còn.
Trời chưa sáng, ta đã ra khỏi thành.
Thanh Thạch Độ nằm nơi tiếp giáp giữa vùng ngoại ô kinh thành và tuyến thủy lộ Giang Nam, năm xưa từng phồn thịnh, nay lại có phần hoang vắng.
Bên bến đò có một tòa kho cũ, trên cửa chồng mấy lớp giấy niêm phong cũ mới.
Người của Đại Lý tự tiến lên kiểm tra niêm phong.
Nữ quan thấp giọng nói: “Vừa niêm phong tối qua, giấy niêm không hề hư tổn.”
Ta lại nhìn chằm chằm phía dưới cửa kho.
Nơi đó có một lớp bột gạo rất mỏng, gió vừa thổi, liền tản ra ngoài cửa.
Ta ngồi xổm xuống, vê lấy một chút.
Thanh Hòa hỏi: “Phu nhân, sao vậy?”
“Đêm qua có người động vào kho.”
Nữ quan cả kinh: “Nhưng giấy niêm chưa rách.”
Ta chỉ về phía rãnh thoát nước bên hông cửa kho.
Một thanh song sắt ở miệng rãnh đã bị mài sáng: “Không phải vào từ cửa.”
Nữ quan sai một ám vệ về bến đò báo tin trước, người còn lại cạy miệng rãnh thoát nước ra.
Bên trong quả nhiên có dấu vết kéo lê.
Chúng ta men theo đường rãnh chui vào, trong kho tối đến đáng sợ.
Ống mồi lửa vừa được bật sáng, từng bao tải chất đầy kho, chỉnh tề ngay ngắn, thoạt nhìn không có bất kỳ vấn đề gì.
Nhưng trong không khí không phải mùi gạo, mà là mùi gỗ ẩm, mùi mốc, còn có một chút khói ngải thảo nhàn nhạt.
Ta đi đến tận trong cùng, sờ thử một bao gạo.
Lớp ngoài bao tải khô ráo, nhưng ruột bao lại hơi mềm ẩm.
Ta dùng d.a.o ngắn rạch một góc.
Hạt gạo lăn ra, bên ngoài một lớp là gạo mới, bên trong toàn là gạo cũ.
Thanh Hòa hít ngược một hơi lạnh.
Ta sai người liên tiếp rạch mười bao, bao nào cũng như vậy.
Chuyện này không còn chỉ là lỗi của riêng Tống gia nữa.
Có người trải gạo mới bên ngoài, nhét gạo cũ vào trong, nếu nghiệm gạo chỉ lấy lớp trên mặt, đương nhiên sẽ đạt chuẩn, mà thứ thật sự được đưa đến bát cơm của bách tính, vẫn là gạo thối.
33
Chúng ta còn chưa kịp rời khỏi kho cũ, bên ngoài đã truyền đến tiếng vó ngựa.
Ám vệ lập tức dập ống mồi lửa, trong kho chìm vào bóng tối.
Có người hỏi ngoài cửa kho: “Xác định người ở bên trong?”
Một giọng khác đáp: “Thấy xe ngựa rồi, người của Bùi Quan Lễ cũng ở đó.”
Nữ quan hạ thấp giọng: “Phu nhân, rãnh thoát nước.”
Chúng ta vừa định lui, cửa kho bỗng bị người từ bên ngoài đá tung.
Ánh lửa từ đuốc tràn vào.
Một nam nhân mặc đoản đả đứng ở cửa, sau lưng còn có hơn mười kẻ cầm gậy.
Ta nhận ra hắn, chính là Phương chưởng quầy năm xưa từng đến Bùi phủ ép ta nói giúp chuyện cống mễ của Tống gia.
Hắn cười nói: “Cô nương, không ngờ đúng không?”
Thanh Hòa chắn trước mặt ta.
Ta hỏi: “Chẳng phải ngươi đã bị phụ thân ta liên lụy mà vào ngục rồi sao?”
Phương chưởng quầy cười lạnh: “Tống lão gia đổ rồi, nhưng gạo hành Giang Nam đâu chỉ có một Tống gia.”
Ta hiểu ra, Tống gia chỉ là quân cờ, quân cờ ngã xuống, người cầm cờ vẫn còn.
Phương chưởng quầy giơ cao bó đuốc: “Hạ đại nhân nói rồi, Bùi phu nhân thông minh, giữ lại là tai họa.”
Nữ quan nghiêm giọng quát: “Người của phủ Trưởng công chúa cũng ở đây, ngươi dám ra tay?”
“Kho cũ cháy, ai biết bên trong có những ai?”
Bó đuốc bị ném về phía bao gạo, bao bố từng được hun ngải thảo lập tức bốc lên lưỡi lửa.
Ta lấy còi đồng ra, dùng sức thổi vang.
Tiếng còi sắc nhọn xuyên qua khói đặc.
Ám vệ và đám người xông vào giao đấu, nữ quan kéo ta lui về phía rãnh thoát nước, nhưng miệng rãnh đã bị bịt kín.
Ta ép mình bình tĩnh lại.
Kho gạo sợ lửa nhất, kho cũ nhất định có cửa xả nước chống lũ.
Ta lần theo vách tường đi về phía trước, cuối cùng chạm được một tấm ván gỗ lỏng.
Sau tấm ván có tiếng nước chảy.
Ta dùng d.a.o ngắn cạy tấm ván ra, để lộ một máng nước hẹp: “Ở đây!”
Ám vệ phá cửa nước, nước lạnh lập tức tràn mạnh vào trong kho, thế lửa bị dập xuống một nửa.
Sắc mặt Phương chưởng quầy đại biến, xoay người muốn chạy.
Ngoài kho lại vang lên một loạt tiếng vó ngựa khác.
Có người cao giọng quát: “Đại Lý tự phá án, bắt lại!”
Khi ta được Thanh Hòa đỡ ra khỏi cửa kho, cả người đã phủ đầy tro khói.
Bùi Quan Lễ theo sau viện binh Đại Lý tự, hiển nhiên là nghe tin chạy tới, sắc mặt trắng bệch đến đáng sợ.