“Thanh Hòe, sau này gặp chuyện như vậy, trước tiên nói với ta một tiếng. Ta sẽ không thay cô quyết định, nhưng có thể giúp cô nhìn thêm vài con đường.”
Lúc nói câu ấy hắn không dùng sức, chỉ giữ đầu ngón tay ta, như sợ ta cảm thấy không thoải mái.
Ta ngẩng đầu nhìn hắn một cái rồi gật đầu.
Tuyết ngoài cửa sổ rơi trên mái hiên, tim đèn trong phòng khẽ nhảy, ánh sáng vẫn yên ổn phủ lên mu bàn tay đang đan vào nhau của chúng ta.
Ngoài Nhạn Hồi Quan có một ngôi miếu nương nương nhỏ.
Khi chúng ta tới, trước miếu đã tụ không ít dân chúng.
A Hành đỡ ta xuống xe, một bà lão tóc bạc bỗng nắm lấy tay ta, nhìn ta rất lâu.
“Cô họ Nguyễn?”
Ta gật đầu.
Nước mắt bà lập tức rơi xuống, kéo ta vào trong miếu.
“Mau vào đi, mau vào nhìn nương nương.”
Trong miếu thờ một pho tượng nữ nhân, mắt mày hiền hòa, tay trái xách đèn, tay phải ôm một đứa trẻ.
Bên cạnh tượng bày đầy quả khô, giày vải và đủ loại đồ vật nhỏ, hương khói rất thịnh.
Ta đứng nguyên tại chỗ, thật lâu không nhúc nhích.
Khuôn mặt ấy rất giống mẫu thân ta.
Người trông miếu tên Triệu bá.
Ông kể ta nghe, mười sáu năm trước, ngoài quan ải có trận bão tuyết chặn đường, một đoàn thương lữ mắc kẹt trên bãi sông.
Khi lũ từ núi tràn xuống, trẻ nhỏ và người già đều bị kẹt trong xe.
Mẫu thân ta vừa hay dẫn tú nương đi ngang, bèn sai người xoắn vải thành dây dài, rồi tự mình nhảy xuống dòng nước lạnh ngập đến gối, kéo từng đứa trẻ lên bờ.
Về sau sườn núi lại sạt xuống một lần, bà vì đẩy một phụ nhân đang ôm trẻ sơ sinh ra mà bị đá rơi đập trúng.
Bà vẫn gắng gượng dẫn mọi người tới trấn, dặn dò xong cách thu xếp cho các tú nương rồi mới nhắm mắt.
Dân chúng cảm niệm bà cứu rất nhiều người, bèn dựng miếu ở đây, gọi bà là Sương Đăng nương nương.
Triệu bá lấy ra một chiếc rương gỗ, trên rương khắc một cành hoa hòe.
“Bà ấy để lại lời, nếu một ngày có người Nguyễn gia tới, cứ giao chiếc rương này cho họ.”
Trong rương có một bức thư, một quyển sổ thêu và một ngọn đèn đồng nhỏ.
Giấy thư đã ố vàng, phía trên là nét chữ của mẫu thân.
Thanh Hòe, nếu mẫu thân không thể về nhà, con đừng trách phụ thân.
Là mẫu thân dặn ông ấy ở lại kinh thành, trông coi việc làm ăn và chăm sóc con.
Sau này con lớn lên, nếu tới nơi này, thay mẫu thân xem những người ở đây có ăn uống t.ử tế, sống yên ổn hay không.
Điều mẫu thân mong nhất là con được sống tự tại hơn ta.
Ta nắm bức thư, sống mũi cay xè.
Phụ thân thường nói mẫu thân lòng dạ mềm, mùa đông nhìn thấy con mèo rét cứng bên chân tường cũng phải ôm về đút hai ngụm sữa dê nóng.
Ta chỉ từng nghe những chuyện vụn vặt ấy, chưa bao giờ nhìn thấy dáng bà lao vào nước tuyết cứu người.
Tro hương rơi bên mép bồ đoàn, lúc Triệu bá nhắc tới bà, giọng vẫn còn run, đến lúc này ta mới biết ở nơi đây vẫn có nhiều người nhớ bà đến vậy.
Triệu bá dẫn ta ra sườn dốc sau miếu.
Ở đó dựng một tấm bia đá xanh, xung quanh trồng đầy cây hòe.
Gió thổi qua, cành khô va vào nhau phát ra âm thanh rất khẽ.
Ta quỳ trước bia, đặt ngọn đèn đồng dưới chân bia đá.
“Mẫu thân, con đến hơi muộn.”
Cổ họng như bị thứ gì chặn lại, ta dừng rất lâu mới nói tiếp.
“Phụ thân đã giữ được nhà, Cẩm Văn Lâu cũng vẫn mở rất tốt. Người vẫn chẳng xỏ nổi kim, nhưng năm nào cũng sai người treo một ngọn đèn, nói rằng nếu mẫu thân muốn về thì đừng để lạc trong ngõ tối. Hồi nhỏ con còn chê người phiền, cười người mấy lần.”
Dân chúng phía sau đều yên lặng, chỉ còn tiếng gió xuyên qua rừng hòe.
“Trong kinh thành có chút chuyện phiền phức, nhưng đều thu xếp xong rồi. Con đã trả hôn thư, cửa hàng cũng không đóng. Dọc đường con gặp một người, đao dùng rất gọn, nhưng nấu mì lại cho quá nhiều muối, A Hành mới ăn một miếng đã phải đi tìm nước.”
A Hành ở phía sau sụt sịt, Cố Hành Chu ho một tiếng.
Ta lau nước mắt, bật cười.
“Mẫu thân, con sống không tệ, phụ thân nuôi con rất tốt. Ngọn đèn này con sẽ mang về kinh, tên trên bia đá cũng sẽ được khắc cho rõ. Sau này nếu có người hỏi Sương Đăng nương nương là ai, con sẽ nói cho họ biết người tên Ninh Nghiễn Thu.”
Ta dập đầu ba cái thật mạnh trước bia.
Triệu bá và dân chúng cũng theo đó bái xuống.
Lúc đứng dậy, chân ta hơi tê, Cố Hành Chu bước tới đỡ một tay.
Hắn giúp ta chỉnh lại cổ áo choàng, không khuyên nhủ gì, chỉ để lòng bàn tay dừng trên mu bàn tay ta một thoáng.
Gió núi vẫn lạnh, tay hắn lại rất ấm.
Chúng ta ở Nhạn Hồi Quan mấy ngày.
Ta chép lại một bản sổ thêu mẫu thân để cho các tú nương, lại để địa chỉ Nguyễn gia ở kinh thành cho Triệu bá.
Nếu có người muốn học thêu, hoặc muốn bán số vải mình dệt, đều có thể nhờ thương đội gửi thư.
Dân chúng đem tới rất nhiều đồ.
Có giày bông may cho ta, có thịt khô phơi cho A Hành, còn có một giỏ táo đỏ nhăn nheo.
Khiến ta bất ngờ nhất là một chiếc hộp gỗ, bên trong xếp ngay ngắn đủ mười sáu phần quà nhỏ.
Triệu bá nói, đây đều là quà sinh thần mọi người thay mẫu thân tích góp cho ta.
Ta mở phần thứ nhất, là một chuỗi hạt gỗ được mài nhẵn; phần thứ hai là một chiếc khăn tay thêu vân mây; trong phần nhỏ nhất chỉ có một viên đá trắng.
Cậu bé tặng viên đá nói, phụ thân nó năm ấy chính là đứa trẻ được mẫu thân ta cứu, viên đá này có thể giữ bình an.
Ta nhận hết từng món, nước mắt cứ quanh quẩn trong hốc mắt.
Tối hôm ấy, Cố Hành Chu mượn nhà bếp, nói muốn nấu cho ta một bát mì trường thọ.
A Hành biết chuyện, từ sớm đã ngồi bên bàn chờ.
Kết quả khi bát mì được bưng lên, sợi dài sợi ngắn không đều, trong nước dùng còn nổi hai lát gừng rất to.