Bà mẫu đặt đũa cho ngay ngắn rồi đáp:
“Đến trang trại cưỡi ngựa vài lần, tiện thể luyện cung một chút.”
Sắc mặt lão Hầu gia lập tức sa sầm:
“Ngần ấy tuổi rồi mà còn mặc đồ đỏ, ra ngoài phô mặt. Bà không thấy mất mặt, ta còn thấy Hầu phủ mất mặt!”
Bùi Hành Chu vừa định lên tiếng, bà mẫu đã ngẩng đầu trước:
“Ta cưỡi ngựa trong trang trại của nhà mình, không làm kinh động đến ai, những việc trong phủ cũng đều hoàn thành như thường.”
Lão Hầu gia cười lạnh:
“Bà là Hầu phu nhân, không phải con nha đầu thôn quê. Chuyện này truyền ra ngoài, người khác sẽ nhìn chúng ta thế nào?”
Ta đặt thìa xuống:
“Nếu người ngoài đến chuyện Hầu phu nhân cưỡi một con ngựa trong trang trại của chính mình cũng muốn quản, vậy có lẽ cuộc sống của họ quá nhàn rỗi rồi.”
Ông quay sang nhìn ta:
“Ở đây đến lượt một tân nương như ngươi xen miệng vào sao?”
Ta còn chưa kịp trả lời, bà mẫu đã lên tiếng:
“Là ta bảo con bé đi cùng. Nếu ông muốn trách, cứ trách ta.”
Bàn ăn đột nhiên im bặt.
Lão Hầu gia nhìn chằm chằm bà, như thể đây là lần đầu tiên ông phát hiện người vợ vốn luôn thuận theo mình cũng biết cãi lời.
Một lúc lâu sau, ông đặt mạnh chén rượu xuống bàn:
“Phận nữ nhân, cứ an phận thủ thường mới là phúc.”
Những ngón tay bà mẫu siết c/h/ặ/t trong tay áo, nhưng giọng nói không hề thoái lui:
“Ta đã an phận hơn hai mươi năm, vậy mà chẳng cảm thấy mình có phúc.”
Bùi Hành Chu khẽ gọi một tiếng:
“Mẫu thân.”
Bà nghiêng đầu nhìn hắn:
“Con cũng cho rằng ta không nên đi sao?”
Bùi Hành Chu lắc đầu:
“Ngoại tổ phụ... nếu người còn sống, hẳn cũng mong mẫu thân được vui vẻ. Con chỉ muốn nói, ngày mai con sẽ chọn cho người một cây cung nhẹ hơn nữa.”
Lão Hầu gia tức giận phất tay áo bỏ đi.
Sau khi tiếng bước chân của ông khuất hẳn, bà mẫu cúi đầu nhìn bát canh đã nguội lạnh trước mặt. Rất lâu sau, bà mới nói:
“Thật ra, vừa rồi ta sợ lắm.”
Ta hỏi bà có phải sợ lão Hầu gia nổi giận không.
Bà lắc đầu, nói rằng bà sợ một khi mở miệng, mình lại giống như trước kia, nuốt hết những lời muốn nói trở vào lòng.
Ta đổi bát canh nóng đến bên tay bà, nhắc bà rằng ban nãy bà đã nói ra rồi.
Bà nâng bát lên, khẽ đáp một tiếng.
Đúng vậy, bà đã nói ra rồi.
Đêm ấy, bà không trở về viện của mình ngay, mà ngồi cùng ta dưới hành lang, nghe mưa thu suốt nửa đêm.
Mưa bụi rơi trên cây lựu, bà bỗng hỏi:
“Quy Nhạn, có phải con chưa bao giờ sợ người khác không thích mình?”
Ta suy nghĩ một lát rồi đáp:
“Từng sợ chứ ạ. Nhưng nếu phải liên tục chịu ấm ức, ép mình nhẫn nhịn hết chuyện này đến chuyện khác mới đổi được sự yêu thích của người ta, vậy thì tình cảm ấy cũng chẳng đáng giá bao nhiêu.”
Bà cười chua chát:
“Đến năm bốn mươi sáu tuổi, ta mới hiểu được đạo lý này.”
Ta nói:
“Đã hiểu thì vẫn chưa muộn ạ.”
Bà nhìn màn mưa, chậm rãi kể về nửa đời trước của mình.
Năm mười bốn tuổi, bà được định hôn; năm mười sáu tuổi, bà bước chân vào nhà chồng. Ban đầu, bà học cách nhìn sắc mặt mẹ chồng, về sau lại học cách nhìn sắc mặt phu quân.
Mọi sổ sách lớn nhỏ trong phủ đều do bà quản lý. Danh mục quà cáp mỗi dịp lễ Tết cũng được bà kiểm tra từng khoản một, vậy mà trên bìa sổ sách, tên người được ghi lại chưa bao giờ là tên bà, mà luôn là tên lão Hầu gia.
Bà chỉ vào đầu gối mình:
“Ngày con mới vào phủ, ta tặng con đôi hộ đầu gối, bởi vì chính ta cũng từng quỳ. Ta vẫn nhớ nền gạch xanh trong từ đường lạnh đến mức nào.”
Ngực ta nghẹn lại.
“Vậy tại sao mẫu thân không bắt con quỳ?”
Bà nhìn ta:
“Những khổ sở ta đã nếm trải, chẳng có lý gì lại bắt con phải chịu thêm.”
Ngày hôm sau, bà vẫn đến trang trại như thường lệ.
Mũi tên hôm ấy vẫn không trúng tâm bia, nhưng đã sượt qua, làm đứt sợi dây đỏ buộc phía sau bia.
Sợi dây đỏ rơi xuống. Bà ngẩn người một thoáng, rồi bỗng ngẩng cằm nhìn ta:
“Lần này, con không thể nói ta chỉ tình cờ cầm vững cây cung được nữa, đúng không?”
Ta nhặt sợi dây đứt lên, buộc nó vào bao cổ tay cho bà:
“Không thể ạ. Mũi tên sượt trúng dây đỏ, cũng chứng tỏ mẫu thân đã có chút chuẩn xác rồi.”
Bà trách yêu ta:
“Lại nói lời kỳ quặc.”
Thế nhưng lúc trở về phủ, đoạn dây đỏ ấy vẫn được bà giữ trên cổ tay.
6
Tin bà mẫu bắt đầu cưỡi ngựa trở lại truyền đến tai sư phụ ta. Người liền mang cung đến trang trại.
Cố Kinh Hồng lớn hơn bà mẫu hơn mười tuổi, hai người từng gặp nhau vài lần khi còn nhỏ.
Vừa chạm mặt, sư phụ đã cười hỏi:
“Thẩm Chiếu Vãn, năm xưa cô cưỡi ngựa của ta chạy mất cả buổi chiều, giờ còn chịu nhận chuyện ấy không?”
Bà mẫu hiếm khi đỏ mặt:
“Ta chỉ cưỡi quanh bờ sông một vòng, sao có thể gọi là cưỡi mất cả buổi chiều?”
“Một vòng? Ta đuổi theo phía sau đến mức đế giày nóng ran, trở về còn bị sư trưởng mắng một trận!”
Hai người đứng bên chuồng ngựa, người một câu, ta một câu nhắc lại chuyện cũ. Ta tựa vào hàng rào, nghe say sưa vô cùng.
Sư phụ bảo bà mẫu kéo cung liên tiếp mấy lần, rồi tự tay chỉnh lại tư thế vai và khuỷu tay cho bà.
Thị lực của bà vẫn còn tốt, chỉ là sức lực cánh tay chưa đủ.
Nghe vậy, bà mẫu càng chăm chỉ luyện tập. Sáng hôm sau, trời vừa tờ mờ sáng, bà đã đến gọi ta dậy.
Ta gục bên bàn, than mệt không muốn dậy. Bà nghiêm mặt nói:
“Cố tiên sinh đã dặn rồi, nghỉ một ngày thì hai ngày sau phải luyện bù.”
Ta nghi ngờ sư phụ đã đem những lời từng dùng để răn dạy ta truyền lại cho bà, nhưng khổ nỗi chẳng tìm được bằng chứng.
Trong buổi tiệc xuân của Hầu phủ năm ấy, bà mẫu không còn bày đầy một bàn bánh trái ngọt ngấy như trước.
Bà ghi nhớ sở thích của từng vị khách, rồi bổ sung thêm vài món ăn vặt có vị mặn và cay.
Một vị phu nhân đã góa chồng nhiều năm nếm thử bánh giòn cay, kinh ngạc hỏi:
“Chiếu Vãn, bao nhiêu năm rồi mà bà vẫn nhớ khẩu vị của ta sao?”
Bà mẫu rót trà cho bà ấy:
“Ta vẫn luôn nhớ. Trước đây ta chỉ chăm chăm làm sao để bàn tiệc trông thật đẹp mắt, lại bỏ quên việc khách khứa thực sự thích ăn gì.”