Lão Hầu gia quay sang ép hỏi Bùi Hành Chu:

“Con cũng mặc cho bà ấy trèo lên đầu ta tác oai tác quái sao?”

Bùi Hành Chu đáp:

“Mẫu thân đang nói chuyện sổ sách, chứ không phải ai đè đầu ai.”

Ông lại chỉ vào ta, cho rằng chính ta đã xúi giục hai mẹ con họ chống đối mình.

Ta đẩy một trang sổ sách sang trước mặt ông:

“Con chỉ đ/á/n/h dấu giúp ngài khoản chi tiêu vượt mức trong nửa năm qua, tổng cộng ba nghìn bốn trăm lượng bạc. Những con số này không biết nói lời ly gián.”

Lão Hầu gia phất tay áo bỏ đi, ngay tối hôm ấy chuyển đến ở tại biệt viện.

Bà mẫu không đuổi theo, chỉ phân loại lại sổ sách công, của hồi môn của bà và tài sản riêng của lão Hầu gia, rồi niêm phong từng phần.

Mười ngày sau, giữa đêm khuya, người từ biệt viện chạy đến báo rằng lão Hầu gia đau n/g/ự/c rồi ngất xỉu.

Khi chúng ta chạy đến nơi, ông đã tắt thở. Trên bàn có một vò rượu đổ nghiêng, t/h/u/ố/c viên vương vãi khắp sàn.

Quản sự biệt viện sợ đến mức liên tục dập đầu, hết lần này đến lần khác thanh minh rằng Hầu gia chỉ uống hai chén rượu, t/h/u/ố/c cũng vẫn dùng như thường lệ.

Bà mẫu không chạm vào bất cứ thứ gì trên bàn, chỉ ra lệnh niêm phong biệt viện, mời phủ y đến và báo quan, không cho phép bất kỳ ai tự ý thu dọn.

Sau khi khám nghiệm, ngỗ tác kết luận rằng lão Hầu gia vốn mắc bệnh t/i/m, lại liên tục uống rượu và dùng t/h/u/ố/c trong nhiều ngày, khiến nhiều yếu tố bất lợi cùng lúc phát tác. Trên t/h/i t/h/ể không có dấu vết ngoại thương hay đầu độc.

Trong tộc vẫn có người hạ thấp giọng bàn tán, ngờ vực chuyện này. Bà mẫu bèn đặt biên bản khám nghiệm của quan phủ, hồ sơ bệnh án cũ của phủ y và sổ mua sắm của biệt viện cùng lên một chiếc bàn bên cạnh linh đường.

Bà nói:

“Ai có điều gì nghi ngờ, cứ hỏi thẳng trước mặt ta. Nếu có chứng cứ, cứ việc giao cho quan phủ; nếu không có, đừng lấy người đã khuất ra để bôi nhọ người còn sống.”

Sau đó, không còn ai dám mập mờ bàn tán nữa.

Tang lễ được tổ chức đúng lễ nghi, nhưng không hề phô trương.

Đến đêm thứ ba túc trực bên linh cữu, Bùi Hành Chu quỳ đến tê cả chân. Ta đỡ hắn đứng dậy, hắn đỏ hoe mắt hỏi bà mẫu có từng oán hận phụ thân hay không.

Bà mẫu nhìn ngọn đèn trường minh trước linh vị:

“Từng hận, cũng từng oán. Nhưng hơn hai mươi năm chung sống, đâu thể chỉ dùng một chữ hận mà nói hết.”

Hắn lại hỏi bà có đau lòng không.

Bà đáp:

“Có chứ. Ông ấy đối xử với ta không thể gọi là tốt, nhưng dù sao chặng đường đời này của ông ấy cũng đã đi đến cuối.”

Sau khi lão Hầu gia được an táng, Bùi Hành Chu kế thừa tước vị.

Hắn đưa ấn tín mới cho mẫu thân xem, nhưng bà lại đẩy trả về, chỉ nói đây là gánh nặng của hắn. Bà có thể tiếp tục giúp hắn quản lý sổ sách thêm nửa năm, nhưng con đường phía trước phải do chính hắn tự bước đi.

Bà không nhân cơ hội này để nắm c/h/ặ/t quyền quản lý Hầu phủ, mà chỉ làm theo quy củ vốn có, lần lượt thu xếp ổn thỏa mọi việc hậu sự.

Ngày đưa tang trở về, bà đứng một mình trong chính viện đã vắng người suốt một khắc đồng hồ.

Sau đó, bà sai người dọn chiếc bàn rượu thường được đặt ở vị trí cao nhất trong phòng, nơi quanh năm chẳng ai dám động đến, thay bằng một chiếc bàn dài đủ rộng để mở trọn cả quyển sổ sách.

9

Những ngày để tang trôi qua thanh đạm và dài đằng đẵng.

Bà mẫu tạm thời không mặc đồ đỏ nữa, cũng không ra ngoại thành phi ngựa. Mỗi sáng, bà chỉ đi bộ nửa canh giờ trong sân sau.

Cứ mười ngày, người chăm ngựa ở trang trại lại đưa tin về một lần, nói rằng con ngựa màu hạt dẻ đã béo lên, còn thường xuyên tranh cỏ của những con ngựa khác.

Nghe xong, bà liền hỏi:

“Nó lại moi kẹo giấu trong tay áo người ta ra ăn phải không?”

Người chăm ngựa cười nói phu nhân quả nhiên hiểu nó nhất. Kẹo có giấu sâu đến đâu cũng không qua nổi cái mũi thính của con ngựa ấy.

Bà sai người gói một ít kẹo mang đến, còn dặn người chăm ngựa mỗi ngày chỉ được cho nó ăn hai viên, đừng chiều đến hỏng răng ngựa.

Bùi Hành Chu đứng bên cạnh cười:

“Mẫu thân đối xử với một con ngựa còn kiên nhẫn hơn với con.”

Bà mẫu liếc hắn:

“Hồi nhỏ con lén ăn kẹo, ta cũng đâu ít lần che giấu giúp con.”

Hắn lại hỏi dồn, tại sao bây giờ bà không chịu che giấu giúp mình nữa.

Bà đáp:

“Giờ con đã là Hầu gia rồi, ăn vụng thì tự mình nhận đi.”

Sau tràng cười ấy, bầu không khí nặng nề trong sân cũng nhẹ nhõm hơn đôi chút.

Nửa năm sau, bà chính thức giao toàn bộ chìa khóa các nơi trong Hầu phủ cùng sổ sách tổng cho ta.

Ta không từ chối, chỉ nói:

“Nếu trong những quy củ cũ có điều gì không còn phù hợp, con sẽ sửa đổi.”

Bà gật đầu:

“Đã giao cho con thì cứ để con sửa. Nếu chuyện gì cũng phải làm theo ý ta, vậy chẳng phải là giao quyền, mà chỉ là đổi sang một bàn tay khác thay ta nắm giữ thôi.”

Ta nhận lấy chùm chìa khóa, đồng thời để lại cho bà một chiếc chìa khóa phụ của kho.

Bà cau mày hỏi, có phải ta sợ bà đổi ý hay không.

Ta đáp:

“Con chỉ sợ đôi khi mẫu thân muốn lấy đồ của chính mình, lại phải đến tìm con xin đóng dấu.”

Bà bật cười rồi nhận lấy.

Sang năm thứ hai để tang, Cố Kinh Hồng nhắc đến chuyện khu viện cũ của thư viện Hành Vu phía đông thành đang được rao bán.

Ta cùng bà mẫu đến xem. Mái ngói đã dột quá nửa, sân luyện tập cỏ dại mọc đầy, giấy dán cửa sổ trong giảng đường cũng rách nát hết cả.

Bà đứng trước bức tường đổ rất lâu, tính toán xem nếu sửa sang lại sẽ tốn bao nhiêu bạc.

Ta lật bảng báo giá của thợ thủ công:

“Lợi nhuận từ các cửa hàng hồi môn của mẫu thân trong hai năm qua vừa đủ để chi trả. Không cần động đến sổ sách công của Hầu phủ.”

Bà hỏi:

“Sau khi sửa xong, sẽ ghi tên ai?”

Ta đáp:

“Ai bỏ tiền thì ghi tên người ấy. Thẩm Chiếu Vãn quyên tiền tu sửa, Cố Kinh Hồng phụ trách quản lý. Mọi thứ đều rõ ràng.”

Bà mẫu ngẩng đầu nhìn ta, ánh mắt dần sáng lên.