Chu Kiến Quốc ngả người vào lưng ghế, giọng có phần bực bội.

“Tôi nuôi nó đến lúc tốt nghiệp đại học còn chưa đủ sao?”

Nghe câu ấy, tôi không nói tiếp. Bởi tôi biết, lúc Trần Hạo còn nhỏ, Chu Kiến Quốc thực sự đã dành không ít công sức chăm lo cho nó. Năm tôi ly hôn chồng trước, Trần Hạo mới chín tuổi. Hai năm sau tôi quen Chu Kiến Quốc. Khi đó ông ấy cũng từng ly hôn và có một cô con gái tên Chu Đình, lớn hơn Trần Hạo ba tuổi, sống cùng vợ cũ.

Lúc chúng tôi quyết định kết hôn, hai bên đã nói rất rõ ràng rằng con cái đều có cha mẹ ruột của mình, chúng tôi không ép bọn trẻ đổi cách xưng hô, cũng không cố gượng ép bắt chúng phải coi nhau như người một nhà m.á.u mủ. Thế nhưng, sống dưới cùng một mái nhà suốt nhiều năm, tình cảm giữa người với người đâu thể lúc nào cũng được phân định rạch ròi như từng điều khoản trong một bản thỏa thuận.

Năm Trần Hạo học lớp tám, trường yêu cầu mua một chiếc máy học tập. Tôi thấy giá cao nên không nỡ mua. Chu Kiến Quốc đi làm về nghe chuyện, hôm sau trực tiếp mua cho nó một chiếc. Ông ấy đặt cái hộp lên bàn học của Trần Hạo rồi nói: “Đừng lấy cái này chơi game. Thi không tốt là chú tịch thu.”

Khi đó Trần Hạo vẫn gọi ông ấy là chú Chu. Mặt nó đỏ bừng, nhỏ giọng đáp: “Cảm ơn chú Chu.”

Ba năm cấp ba, những lần tôi không kịp đi họp phụ huynh, Chu Kiến Quốc đã thay tôi đi bốn, năm lần. Có lần giáo viên nói trước cả phòng rằng Trần Hạo học lệch quá nghiêm trọng, môn toán nếu cứ tiếp tục như vậy thì rất khó vào được một trường đại học tốt.

Hôm ấy Chu Kiến Quốc vừa về đến nhà, còn chưa thay giày xong đã mắng Trần Hạo gần nửa tiếng. Trần Hạo không phục, đóng sầm cửa phòng. Chu Kiến Quốc tức đến mức ngồi lặng trên sofa rất lâu, nhưng đến hơn mười một giờ đêm lại lặng lẽ đứng dậy, cắt một đĩa dưa hấu rồi đặt lên bàn học cho nó.

Những chuyện ấy tôi chưa từng quên. Chính vì nhớ rõ cách ông ấy từng chăm sóc Trần Hạo nên dù biết chín trăm nghìn tệ là một khoản rất lớn, tôi vẫn nghĩ chí ít ông ấy sẽ chịu ngồi xuống, cùng tôi tìm một cách giải quyết. Nào ngờ, điều đó cũng không xảy ra.

Sau tối hôm đó, hai chúng tôi lạnh nhạt với nhau ba ngày. Không phải hoàn toàn không nói chuyện, chỉ là những câu trao đổi đều ngắn đến mức không thể ngắn hơn.

“Cơm ở trong nồi.”

“Ừ.”

“Bưu kiện để ngoài cửa rồi.”

“Biết rồi.”

“Ngày mai khoản tiền ở cửa hàng ông nhớ ghi lại.”

“Được.”

Chỉ toàn những câu như vậy. Sáng ngày thứ tư, tôi dậy nấu cháo thì Chu Kiến Quốc đã ngồi ngoài ban công uống trà. Mỗi sáng ông ấy đều dậy lúc sáu giờ rưỡi, pha một ấm trà đặc rồi cầm điện thoại xem giá vật liệu trong ngày.

Hôm ấy tôi cắt trứng vịt muối thành bốn miếng rồi bưng ra. Chu Kiến Quốc im lặng một lúc mới hỏi: “Bên Trần Hạo khi nào phải nộp khoản trả trước?”

Nghe vậy, trong lòng tôi khẽ động.

“Muộn nhất là thứ Sáu tuần sau.”

“Bốn trăm nghìn bên nhà gái đã chuẩn bị xong rồi?”

“Xong rồi.”

“Còn hai trăm tám mươi nghìn của bà?”

“Đang để trong tài khoản không kỳ hạn.”

Ông ấy gật đầu. Tôi chờ khá lâu nhưng Chu Kiến Quốc không nói thêm gì, cuối cùng vẫn là tôi không nhịn được.

“Ông nghĩ thông rồi à?”

Ông ấy cầm tách trà, mắt vẫn nhìn màn hình điện thoại.

“Tôi chỉ hỏi thôi.”

Chút hy vọng vừa nhen nhóm trong tôi lập tức tan biến; hóa ra ông ấy chỉ hỏi để biết tình hình, chứ chưa hề đổi ý. Tôi không hỏi thêm nữa. Nhưng ngày cưới của con trai sẽ không vì vợ chồng chúng tôi giận nhau mà dừng lại. Thứ Bảy, Trần Hạo dẫn Lâm Nghiên tới ăn cơm.

Lâm Nghiên không phải kiểu con gái quá hoạt bát, nhưng mỗi lần tới nhà đều tranh giúp tôi nhặt rau, rửa trái cây.

Hôm đó cô bé mang theo hai hộp trái cây, vừa bước vào cửa đã gọi: “Dì ơi, cháu mua loại lựu hạt mềm dì thích ăn này.”

Tôi nhận lấy túi rồi trách yêu: “Sau này đừng cứ mua đồ nữa. Sắp kết hôn rồi, lúc này chỗ nào cũng cần tiêu tiền.”

Cô bé cười.

“Không tốn bao nhiêu đâu ạ.”

Chu Kiến Quốc từ phòng khách đi ra, vẫn chào hỏi hai đứa như bình thường.

“Đến rồi à? Trần Hạo, pha trà đi.”

“Vâng.”

Trần Hạo cũng vẫn như mọi khi, hoàn toàn không nhắc tới chuyện tiền bạc. Tôi biết nó không hề hay biết tôi đã mở lời với Chu Kiến Quốc. Chuyện này vốn là do tôi tự quyết định.

Trước đó Trần Hạo còn từng nói với tôi: “Mẹ, mẹ đừng đi vay chú Chu. Tiền của chú ấy là của chú ấy, con kết hôn không thể khiến mẹ khó xử ở giữa.”

Khi đó tôi còn mắng nó.

“Con bớt lo chuyện của người lớn đi.”

Nghĩ lại những lời ấy, tôi chợt nhận ra có khi chính con trai mới là người nhìn rõ ranh giới giữa chúng tôi hơn cả tôi. Trong bữa cơm hôm ấy, Lâm Nghiên nhắc đến căn nhà.

“Bên chủ nhà đồng ý giảm thêm hai mươi nghìn tệ, nhưng môi giới nói không thể kéo dài quá lâu.”

Chu Kiến Quốc gắp một miếng cá rồi nói: “Người trẻ mua nhà cũng đừng cố mua cho bằng được ngay từ đầu, áp lực lớn quá.”

Trần Hạo đáp: “Bọn cháu cũng từng nghĩ hay là thuê trước.”

“Vậy thì thuê hai năm đi.”

Lâm Nghiên cúi đầu ăn cơm, không nói gì. Dù biết ông ấy cũng có lý, cách ông ấy đưa ra lời khuyên ngay trên bàn ăn vẫn khiến tôi khó chịu.

“Hai đứa nó đã bàn bạc xong cả rồi, ông đừng chỉ đạo ngay trên bàn ăn nữa.”

Chu Kiến Quốc nhìn tôi.

“Tôi nói một câu thật lòng cũng không được sao?”

Không khí trên bàn lập tức trở nên gượng gạo. Trần Hạo vội giảng hòa.

“Chú Chu nói cũng có lý, bọn cháu sẽ xem thêm.”

Ăn xong, Lâm Nghiên vào bếp rửa trái cây, tôi cũng đi theo. Cô bé mở vòi nước rất nhỏ, kiên nhẫn rửa từng quả nho. Rửa được một nửa, Lâm Nghiên mới nhỏ giọng nói: “Dì ơi, dì đừng vì chuyện căn nhà mà cãi nhau với chú.”

Tôi sững lại.

“Ai nói với cháu là dì với chú cãi nhau?”

Cô bé vội lắc đầu.

“Không ai nói cả. Cháu chỉ cảm thấy vậy thôi.”

Tôi không đáp. Lâm Nghiên lau tay rồi nói tiếp: “Bố mẹ cháu đã nói rồi, nếu thật sự không được thì bốn trăm nghìn kia tạm thời không dùng mua nhà nữa. Sau khi cưới, bọn cháu thuê nhà cũng sống được.”

Tôi hỏi: “Họ sợ người khác nói à?”

Lâm Nghiên khựng một chút rồi lắc đầu.

“Cũng không phải. Mẹ cháu chỉ cảm thấy chuyện kết hôn của hai nhà, bên nào góp bao nhiêu đều có thể bàn bạc, nhưng không thể vì bọn cháu kết hôn mà khiến cuộc sống của thế hệ trước tan vỡ.”

Nghe xong, mặt tôi bỗng nóng lên. Tôi đã năm mươi ba tuổi, vậy mà chỉ mấy lời thẳng thắn của một cô gái mới ngoài hai mươi đã khiến tôi không biết phải đáp thế nào. Tôi chỉ đành cầm đĩa trái cây lên.

“Các cháu không cần lo. Dì biết phải làm thế nào.”

Tôi nói vậy để cô bé yên tâm, nhưng tận sâu trong lòng, chính tôi cũng chưa tìm ra cách nào thực sự ổn thỏa.