Một lát sau, ta mới chậm rãi lên tiếng:
“Đền cả đời sao?”
“Vậy thì khoản này lớn quá, rủi ro cũng không nhỏ.”
“Những chuyện liên quan đến cả đời vẫn nên lập khế ước rõ ràng, có chữ ký, có ngọc tỷ làm chứng thì mới yên tâm được.”
Ta đặt chiếc bàn tính xuống, kéo ghế về phía hắn rồi nghiêm túc nói:
“Hoàng thượng, mời ngài ngồi.”
“Chúng ta cần bàn bạc lại một chút về cách phân chia quyền lợi trong hậu cung này.”
Tiêu Cảnh Dực nhìn chiếc ghế trước mặt, rồi lại nhìn vẻ mặt nghiêm túc của ta, khóe môi không khỏi giật nhẹ.
Hắn bỗng có dự cảm rằng câu nói đền cả đời vừa rồi có lẽ chính là quyết định khiến mình phải trả giá đắt nhất trong đời.
Ngoài trời, mưa đã ngớt.
Một vệt trăng nhạt xuyên qua tầng mây, rơi xuống gian phòng nhỏ, phủ lên đống đồ đạc ngổn ngang một lớp ánh sáng dịu dàng.
Trường Thu Viện vẫn là lãnh cung cũ kỹ ấy, nhưng dường như từ khoảnh khắc này, nơi từng lạnh lẽo đến mức ta chỉ có thể tự mình tìm đường sống đã có thêm một người chịu bước vào, cùng ta gánh vác những điều mà trước đây ta luôn phải tự mình tính toán.
Ta cúi xuống, cẩn thận đặt lại hạt ngọc vừa bị nứt trên chiếc bàn tính rồi khẽ gạt một hạt khác sang bên.
“Lách cách!”
Âm thanh trong trẻo vang lên giữa màn đêm tĩnh lặng.
Vẫn là tiếng bàn tính quen thuộc, nhưng lần này chẳng còn mang theo cảm giác lạnh lẽo của những ngày ta chỉ biết tính từng đồng bạc để tồn tại.
Tiếng ngọc va vào nhau chậm rãi, đều đặn, tựa như nhịp thở bình yên sau cơn mưa.
Ta khẽ nói:
“Có lẽ từ hôm nay, cuốn sổ của ta sẽ phải thêm một khoản mới.”
“Khoản này tạm thời chưa biết nên ghi vào mục thu nhập hay tài sản dài hạn.”
Gió bắc ù ù thổi dọc hành lang, nhưng bên trong Trường Thu Viện, hai chậu than kim ti đang cháy rực đã đủ xua tan cái rét buốt xương của mùa đông.
Tiếng bàn tính ngọc bích vang lên đều đều giữa căn phòng ấm áp.
Ta ngồi khoanh chân trên chiếc sập gấm mới tinh, cau mày nhìn chồng tấu chương đóng dấu đỏ của Hộ bộ chất cao trước mặt, càng nhìn càng thấy đau đầu.
Thái giám tổng quản cẩn thận khom người, hai tay dâng lên một cuộn giấy vàng:
“Nương nương, Hộ bộ thượng thư lại cho người đưa tới bản kê khai ngân sách tu sửa hành cung mùa đông.”
“Hộ bộ nói Hoàng thượng đã giao toàn quyền kiểm duyệt quốc khố cho nương nương, từ nay mọi khoản thu chi đều do người định đoạt.”
Ta nhận lấy cuộn giấy, lướt mắt qua hàng loạt con số chi chít trên đó rồi lập tức nhíu mày.
Kể từ đêm Tiêu Cảnh Dực dẫn người đến đột kích Trường Thu Viện, hắn chẳng những không nhắc đến chuyện phục vị cho ta, mà còn trực tiếp giao luôn quyền kiểm soát tài chính trong cung.
Ba tháng trôi qua, ta từ một phế hậu ngày ngày phải tính từng đồng bạc để tự nuôi sống mình, đã trở thành người ngồi trước đống sổ sách, quyết định khoản nào được chi, khoản nào phải cắt giảm của cả triều đình.
Ta đặt cuộn giấy xuống bàn, đầu ngón tay gõ nhẹ lên mặt án:
“Trả lại cho Hộ bộ.”
“Hành cung mùa đông năm nay, Hoàng thượng có định đi đâu mà phải tu sửa?”
“Chỗ nào hỏng thì sửa chỗ đó, không có chuyện chưa dùng đến đã đem bạc quốc khố ra đốt.”
“Báo với lão thượng thư, nếu còn dám bày thêm mấy khoản chi vô nghĩa thế này, bổn cung sẽ tự tay trừ bổng lộc của lão ba tháng.”
Thái giám tổng quản cúi đầu lĩnh mệnh, nhưng vừa quay người định đi thì một giọng nói quen thuộc đã vang lên bên cạnh:
“Nương nương, người nghỉ tay một chút đi.”
Ta ngẩng đầu lên, liền thấy Tiểu Đào bưng một khay gỗ chạm trổ tinh xảo bước vào.
Trên khay còn đặt một chén trà nóng và đĩa bánh mộc nhĩ táo đỏ bốc hơi nghi ngút.
Dáng vẻ con bé giờ đây đã khác hẳn ngày trước.
Áo lụa thượng phẩm khoác trên người, bước chân cũng chẳng còn rụt rè, sợ sệt như khi còn ở Trường Thu Viện cũ.
Mới ngày nào, chỉ cần nghe thấy tiếng bước chân của hoàng đế là nó đã run bần bật.
Vậy mà bây giờ, nhìn đống tấu chương chất cao trước mặt ta, người đầu tiên lo ta làm việc quá sức lại chính là nó.
Tiểu Đào đặt chén trà xuống bên cạnh rồi cẩn thận bày đĩa bánh ra trước mặt ta, vẻ mặt vừa bất đắc dĩ vừa lo lắng:
“Thượng Thiện Phòng vừa đưa tới món bánh mộc nhĩ táo đỏ.”
“Họ nói đã dùng mộc nhĩ ngàn năm trên núi tuyết, kết hợp với táo đỏ Tân Cương tiến cống, hầm cùng nấm tuyết rồi đặc biệt dâng lên cho người.”
Ta dừng tay, liếc xuống đĩa bánh còn đang bốc hơi nghi ngút, cầm đôi đũa bạc gắp một miếng đưa vào miệng.
Vị ngọt thanh, mềm mọng lập tức tan ra nơi đầu lưỡi, hoàn toàn khác với thứ bánh mộc nhĩ khô khốc, chát ngầm mà ta từng phải ăn để chống đói.
Hương vị quả thực không tệ, nhưng trong đầu ta vẫn theo thói quen tự động tính toán.
Mộc nhĩ ngàn năm giá mười lạng bạc một lạng, táo đỏ tiến cống thêm năm lạng, cộng cả nấm tuyết và công chế biến, một đĩa bánh nhỏ thế này ít nhất cũng ngốn gần hai mươi lạng bạc.
Ta chậm rãi nuốt xuống, đặt đũa rồi nghiêm túc dặn dò:
“Bảo Thượng Thiện Phòng lần sau đổi sang nguyên liệu thường thôi.”
“Chỉ là một món điểm tâm, cần gì phải dùng toàn đồ quý hiếm?”
“Chi phí nguyên liệu cao như vậy mà cứ đưa vào khoản chi thường xuyên, ngân sách hậu cung sớm muộn cũng bị đội lên.”
Tiểu Đào nghe vậy, bụm miệng cười:
“Nương nương vẫn tính toán chi li như ngày trước.”
“Nhưng Hoàng thượng đã dặn rồi, phàm là đồ dùng của người thì ngân sách không có hạn mức.”
Ta nghe xong chỉ hừ một tiếng, cầm b/út lông khoanh một vòng đỏ lên bản báo cáo chi tiêu của hậu cung.
Không có hạn mức?
Ông chủ lớn này quả nhiên chẳng biết quản lý dòng tiền.
Nếu cứ để hắn phóng tay như vậy, quốc khố có núi vàng cũng chẳng chịu nổi.
Kể từ ngày ta nắm quyền duyệt chi, hậu cung cũng theo đó mà thay đổi hoàn toàn.
Những khoản tiêu tiền vô tội vạ lần lượt bị cắt bỏ, còn những người có khả năng tự kiếm thêm thu nhập thì được khuyến khích phát huy.
Phi tần nào trong một tháng thêu được ba bức bình phong đem bán sẽ được thưởng thêm than củi.
Viện nào tự trồng rau, nuôi gà thì được cộng thêm điểm chuyên cần.
Thậm chí, những món đồ thủ công trước kia chỉ dùng để g/i/ế/c thời gian cũng được ta gom lại định giá, rồi tìm cách đưa ra ngoài bán.
Kết quả là cái hậu cung vốn ngày ngày chỉ quanh quẩn chuyện tranh sủng, đấu đá, hạ độc, nay chẳng biết từ lúc nào đã biến thành một nơi ai nấy đều bận rộn.
Người thêu tranh chạy doanh số, người trồng rau tính sản lượng, người lo bếp núc thì nghiên cứu cách giảm chi phí mà vẫn giữ chất lượng.
Còn ta ngồi giữa đống sổ sách, ngày ngày đau đầu xem khoản nào nên chi, khoản nào phải cắt.
So với cảnh hậu cung tranh nhau một ánh mắt của hoàng đế trước kia, tình cảnh hiện tại tuy chẳng còn mấy phần thâm cung, nhưng ít nhất ai cũng có việc làm, có thu nhập, mà quốc khố cũng không bị đám người này tiêu đến cạn đáy.
Đang định phê duyệt khoản cắt giảm ngân sách mua phấn sáp, cánh cửa phòng bỗng bị đẩy nhẹ.
Tuệ Quý Phi bước vào.
Trên người bà ta không còn là những bộ y phục thêu chỉ vàng lộng lẫy như trước, mà chỉ là một bộ lụa trơn màu lục nhạt.
Trông bà ta tuy có phần tiều tụy, nhưng lại gọn gàng, thực tế hơn hẳn.
Trên tay bà ta cũng chẳng còn độc d/ư/ợ/c hay bùa chú gì, chỉ ôm khư khư một cuốn sổ hạch toán, dáng vẻ chẳng khác nào một chủ quản đang cầm báo cáo đến khiếu nại.
Tuệ Quý Phi nhún gối hành lễ, giọng điệu mang theo vẻ bất lực hiếm thấy:
“Thần thiếp tham kiến Hoàng hậu nương nương.”
Ta chẳng buồn ngẩng đầu, chỉ nhấp một ngụm trà sâm rồi thuận miệng hỏi:
“Quý phi đến đây có việc gì?”
“Báo cáo doanh thu tháng này của Chức Tú Cung vẫn chưa nộp đấy.”
Khóe môi Tuệ Quý Phi giật nhẹ.