Vừa gào, bà ta vừa chộp lấy thịt thần tiên, nhét liên tục vào miệng.
Chuyện kỳ lạ xảy ra.
Bất kể người phụ nữ ăn bao nhiêu, khối thịt trên bàn vẫn chẳng hề vơi đi chút nào.
Ngay cả khi bụng bà ta đã phình to như quả bóng, bà ta vẫn không chịu dừng lại, cuối cùng bị chính lượng thịt ấy làm cho no căng đến c/h/ế/t.
Cảnh tượng thần kỳ hơn nữa lại xuất hiện.
Khối thịt giống như sống dậy, bao bọc lấy t/h/i t/h/ể người phụ nữ. Sau đó, nó còn lớn thêm một chút.
Ba ngày nữa trôi qua, lại có một người phụ nữ xông vào từ đường.
Bà ôm đứa con đang thoi thóp trong lòng, quỳ trước khối thịt thần tiên, cắt xuống một miếng nhỏ.
Sau khi miếng thịt lìa khỏi khối thịt lớn, vết cắt thế mà lại từ từ chuyển động, khép miệng rồi lành lại.
Còn miếng thịt được mang đi nấu trong nồi, chẳng mấy chốc đã hóa thành một nồi canh thịt sền sệt, thơm ngon đậm đà, hương thơm lan tỏa khắp nơi.
Dân làng đang chịu đói chịu khát làm sao cưỡng lại nổi sức hấp dẫn ấy? Tất cả lập tức ùa lên, tranh nhau chia sạch nồi canh.
Từ đó về sau, mỗi ngày trưởng thôn đều cắt một miếng thịt, mang vào từ đường nấu thành canh cho dân làng.
Khối thịt ấy ăn mãi vẫn chẳng thấy vơi đi, khiến người trong làng càng thêm tin tưởng rằng đây chính là sự phù hộ của thần tiên.
Cứ như vậy, làng chúng tôi dựa vào khối thịt thần tiên ấy, vượt qua trọn vẹn ba năm nạn đói Đinh Mậu.
Trong khi các ngôi làng khác gần như nhà nào cũng có người c/h/ế/t, làng chúng tôi ngoài những người c/h/ế/t đói ban đầu, về sau lại chẳng có thêm bất kỳ ai thiệt mạng.
Không đúng, vẫn còn một người.
Người cha của hai đứa trẻ kia, dù c/h/ế/t cũng nhất quyết không chịu ăn thịt, ngay trong ngày hôm đó, ông ta đã treo cổ trên cây khô ở đầu làng.
Đôi mắt ông ta trợn trừng như hai cái đèn l/ồ/ng, khuôn mặt hướng thẳng về phía từ đường.
Còn bên trong từ đường, dân làng đang quây quần bên nhau, ăn thịt vợ con ông ta.
Ông nội nói, ba năm ấy là quãng thời gian ông được ăn no nhất trong đời, cũng là ba năm khiến ông khó lòng quên được nhất.
3
Dù đã nghe câu chuyện này rất nhiều lần, tôi vẫn sợ đến mức nhào vào lòng ông nội.
“Cha à, cha đừng dọa Tú Quyên nữa. Con bé nhát gan lắm!”
Cha tôi bực bội bước tới, xoa đầu tôi rồi an ủi:
“Đừng sợ, ông nội đang bịa chuyện thôi. Nếu thật sự có thần tiên thì thiên hạ đã thái bình từ lâu rồi. Hơn nữa, biến người thành thịt, như thế mà cũng gọi là thần tiên sao?”
Mẹ tôi cũng bước tới, phụ họa:
“Đúng vậy! Nhà ấy cũng đáng thương, cứ thế mà mất cả vợ lẫn con. Đúng là nghiệp chướng mà! Mau đến giúp mẹ làm việc đi, đừng nghe lời ông nội con. Ông già rồi, đầu óc không còn minh mẫn nữa. Bây giờ quan trọng nhất là tích trữ thêm lương thực. Nhà mình đông người, dù hiện tại có nhiều lương thực đến đâu thì cũng chỉ đủ ăn nửa năm thôi.”
“Vậy trong làng mình thật sự có thần tiên phù hộ sao?”
Em trai tôi, Tiểu Hổ, nghe đến mê mẩn, không nhịn được mà lên tiếng hỏi.
Vẻ mặt hồi tưởng của ông nội bỗng khựng lại, thoáng hiện lên một biểu cảm phức tạp.
“Đều là chuyện quá khứ rồi. Sau này, khi thời tiết tốt lên, cây cối ngoài đồng bắt đầu sinh trưởng, khối thịt ấy cũng tự nhiên biến mất. Người trong làng đều nói thịt thần tiên đã trở về trời.”
Ông nội đứng dậy, ngước nhìn lên trời, lẩm bẩm:
“Thật muốn được ăn thịt thần tiên thêm một lần nữa…”
Sau đó, ông nội xoa đầu em trai tôi, không nói thêm lời nào, chỉ tiếp tục rít t/h/u/ố/c lào, phì phèo nhả khói.
Bố mẹ tôi đều là nông dân, cả đời làm bạn với ruộng đồng, quanh năm trông cậy vào ông trời kiếm miếng cơm ăn.
Cảm giác của họ không sai.
Năm đại hoang đã bắt đầu.
Mặt trời trên cao nóng rát như muốn hút cạn chút hơi ẩm cuối cùng dưới mặt đất, những hạt giống vừa gieo xuống còn chưa kịp nảy mầm đã c/h/ế/t khô trong đất.
Người chạy nạn đi ngang qua đầu làng ngày càng đông.
Ban đầu, vẫn còn nghe thấy tiếng người nói chuyện nhưng dần dần, thứ duy nhất còn lại chỉ là từng đôi chân vô cảm lê bước, cuốn theo bụi đất cũng phảng phất hơi thở của t/ử khí.
Sắc mặt cha mẹ ngày càng nặng nề, những bao lương thực trong hầm vơi đi với tốc độ có thể nhìn thấy bằng mắt thường.
Họ thường xuyên ghé sát nhau, thấp giọng tính toán xem số lương thực còn lại có thể cầm cự được bao lâu, những cuộc trò chuyện như vậy ngày càng nhiều, mà giọng điệu cũng ngày càng tuyệt vọng.
Thức ăn trong bát của chúng tôi cũng dần ít đi, chất lượng ngày càng tệ.
Em trai tôi còn nhỏ, đang ở độ tuổi phát triển, lúc nào cũng kêu đói, mỗi lần như thế, bố mẹ đều chia cho em một miếng thức ăn từ chính bát của mình, vốn đã chẳng còn bao nhiêu.
Ăn cơm xong, bố mẹ thậm chí chẳng có thời gian nghỉ ngơi, họ lại đi khắp những vùng lân cận, tìm kiếm tất cả những thứ còn có thể ăn được rồi mang về nhà.
Đây là lần đầu tiên trong đời tôi phải trải qua nạn đói.
Những cảnh tượng thê t/h/ả/m mà ông nội từng kể, giờ đây đã bắt đầu lần lượt xuất hiện ngay trước mắt tôi.
Đúng lúc tôi nghĩ rằng nhà mình cũng sắp phải lên đường chạy nạn, trưởng thôn đột nhiên triệu tập tất cả người lớn trong làng đến từ đường họp bàn.
Họ đã nói những gì, tôi không biết, tôi chỉ biết sau khi trở về, bố đã cãi nhau một trận long trời lở đất với ông nội, mẹ ôm tôi và em trai vào lòng, đôi mắt đỏ hoe, nghẹn ngào chẳng nói nên lời.
Những người già không còn tụ tập dưới gốc hòe lớn ở đầu làng để than ngắn thở dài nữa. Thay vào đó, họ thường lặng lẽ ngồi trên mấy bậc thềm đá xanh bên ngoài từ đường, ngồi liền một lúc nửa ngày, những nếp nhăn trên khuôn mặt họ hằn sâu, chẳng biết ẩn chứa nỗi sợ hãi hay một niềm mong đợi nào đó.
Những gia đình có con nhỏ đóng cửa đóng then từ rất sớm, nhà tôi cũng không ngoại lệ, bố mẹ khóa trái cửa, dặn đi dặn lại rằng tuyệt đối không được ra ngoài, dù ăn uống hay đi vệ sinh cũng chỉ được ở trong nhà.
Chỉ vì em trai ra trước cửa nhặt một viên sỏi để chơi, bố mẹ đã lập tức sa sầm mặt mày, đ/á/n/h em một trận tơi bời.