Hắn im lặng một hồi lâu: “Vậy thì trẫm chắc là làm việc hai mươi tư trên hai mươi tư giờ suốt cả tuần rồi.”
Tôi suýt chút nữa thì bật cười thành tiếng. Một ông vua thời cổ đại mà lại tự nhận mình làm việc không ngừng nghỉ suốt ngày đêm.
Tự dưng tôi thấy hắn không còn đáng sợ đến thế nữa. Suy cho cùng, hắn cũng chỉ là một chàng trai hai mươi tuổi. Bị hoàng thúc thúc ép làm bia đỡ đạn, bị Thái hậu đè đầu cưỡi cổ, ngày nào cũng phải phê duyệt tấu chương đến tận rạng sáng, đến một người để nói lời thật lòng cũng chẳng có.
Tôi chuẩn bị bước ra ngoài. Đến cửa, hắn lại gọi tôi lại.
“Lâm Tiểu Đường.”
“Dạ?”
“Chuyện ngày hôm nay, không được nói cho bất kỳ ai biết.”
“Nô tỳ biết rồi ạ.”
Hắn gật đầu, rồi lại cúi đầu xuống phê duyệt tấu chương. Tôi đứng ở cửa nhìn hắn một lát.
Hắn ngước lên nhìn tôi: “Còn chuyện gì nữa sao?”
“Không có gì ạ. Bệ hạ xin hãy chú ý nghỉ ngơi.”
Hắn hơi khựng lại một chút, rồi cúi đầu xuống, không nói năng gì.
Tôi khép cửa lại rồi bước ra ngoài. Trên đường quay lại Ngự Hoa Viên quét đất, lòng tôi có chút rối bời. Hoàng đế quả thực rất khôi ngô. Hắn có chút đáng thương. Hắn muốn lợi dụng tôi. Hắn là cấp trên của tôi.
Thôi xong rồi, hình như tôi rung động mất rồi.
5.
Kể từ đó, số lần tôi đến Ngự Thư Phòng ngày một nhiều hơn.
Có lúc là đưa trà, có lúc đưa bánh ngọt, có lúc lại đưa canh sâm — là do Thái hậu dặn dò, bảo rằng bệ hạ lao lực quá độ nên cần phải bồi bổ. Nhưng tôi nghĩ Thái hậu có lẽ chỉ muốn tìm một người để mắt tới hắn mà thôi.
Mỗi lần tôi đến, hắn đều đang vùi đầu vào đống tấu chương. Bàn làm việc chất đống như núi nhỏ, hắn lọt thỏm ở trong đó, chỉ lộ ra mỗi đỉnh đầu. Nhìn dáng vẻ đó của hắn, tôi lại liên tưởng ngay đến lão giám đốc hói đầu ở phòng kỹ thuật của công ty tôi trước kia.
Có một ngày tôi đến đưa canh sâm, hắn đang nhíu mày rầu rĩ trước một bản tấu chương.
“Ngươi xem cái này đi.” Hắn đột ngột đưa bản tấu chương cho tôi.
Tôi giật b.ắ.n mình: “Bệ hạ, nô tỳ không dám —”
“Đừng giả vờ nữa, ngươi đọc hiểu mà.”
Tôi đón lấy xem thử, đó là sổ sách do bộ Hộ nộp lên, ghi chép số lượng lương thực tích trữ ở các kho lương khắp nơi. Chữ viết nguệch ngoạc, logic thì hỗn loạn, các con số chẳng khớp nhau chút nào.
Tôi buột miệng nói một câu: “Số liệu này không đúng rồi.”
“Không đúng ở chỗ nào?”
“Chỗ này ạ. Tháng trước báo cáo số lương trữ kho là ba ngàn thạch, tháng này lại biến thành hai ngàn thạch. Ở giữa không hề có ghi chép điều chuyển nào cả. Tự dưng lại hụt mất một ngàn thạch.”
Hắn liếc nhìn tôi một cái, ánh mắt có chút thay đổi. Sau này tôi mới biết, ngày hôm đó hắn đã thầm nghĩ: Một cung nữ bình thường sao có thể xem hiểu sổ sách kế toán chứ?
Lúc ấy trong lòng tôi lại nghĩ: Ngài là một ông vua, đã từng đi làm bao giờ chưa thế?
Nhưng hắn không hỏi, tôi cũng không nói. Mối quan hệ giữa hai chúng tôi cứ thế xích lại gần nhau hơn trong sự thấu hiểu ngầm ấy.
Một buổi chiều tà nọ, tôi đến đưa trà thì không thấy hắn ngồi ở bàn long án nữa. Tôi ngó nghiêng xung quanh, phát hiện hắn đang nằm ngủ thiếp đi trên chiếc sập gụ bên cửa sổ. Chiếc long bào đắp trên người, dáng nằm co quắp trông chẳng khác nào một lập trình viên tăng ca đến mức kiệt quệ tinh thần.
Tôi không đ.á.n.h thức hắn. Đặt chén trà xuống bàn, tôi rón rén lui ra ngoài. Lúc đi đến cửa, tôi chợt nghe thấy hắn nói mớ một câu:
“Trẫm không phải là bù nhìn...”
Tôi khựng lại một nhịp, rồi mới bước hẳn ra ngoài.
Đêm hôm đó tôi bị mất ngủ. Không phải vì nhớ nhà, mà là vì câu nói mớ của hắn.
“Trẫm không phải là bù nhìn.”
Khi hắn nói câu đó trong mơ, giọng nói mang một nỗi uất ức khôn tả. Không phải là phẫn nộ, mà là uất ức. Giống như một đứa trẻ bị người ta giật mất món đồ chơi yêu thích, chỉ biết ấm ức lầm bầm trong giấc mơ rằng “đó là của tôi”.
Tôi bỗng thấy nhói lòng thay cho hắn. Không được, tôi không thể thương hại hắn được. Hắn là Hoàng đế cơ mà. Hắn còn đang muốn lợi dụng tôi để lật đổ Thái hậu nữa đấy.
Nhưng tôi vẫn không sao ngủ nổi. Trở mình một cái, tôi lại nhớ đến dáng vẻ hắn gục đầu ngủ gục trên bàn. Long bào thì xộc xệch, mực chu sa nhỏ xuống tấu chương loang lổ, chẳng có lấy một ai đắp cho hắn một tấm áo ấm.
Vị Thái hậu có nghi vấn là người hiện đại kia, thực sự đang thâu tóm quyền lực của hắn sao? Hay là bà ấy có nỗi khổ tâm riêng nào khác? Tôi không biết nữa. Tôi quyết định ngày mai sẽ tiếp tục quan sát. Dù sao thì công việc của tôi cũng chỉ là đưa trà mà thôi.
6.
Vào tuần thứ ba tôi làm việc ở Ngự Thư Phòng, có một ngày, tôi đang bưng một ấm trà mới đi trên hành lang dài. Phía trước đột nhiên truyền đến một hồi náo động.
“Thái hậu giá đáo —”
Tôi vội vàng lui vào lề đường, cúi đầu quỳ xuống. Một đôi giày thêu chim phượng bằng chỉ vàng lướt qua trước mặt tôi. Khi đi đến trước mặt tôi thì đôi giày ấy khựng lại.
“Đứng lên đi.”
Giọng nói rất bình thản, có phần uể oải. Tôi đứng dậy, nhưng vẫn giữ nguyên tư thế cúi đầu.
“Ngươi là người hầu hạ ở Ngự Thư Phòng à?”
“Vâng.”
“Tên gì?”
“Lâm Tiểu Đường.”
Bà ấy “ừm” một tiếng, định bước đi tiếp. Nhưng mới đi được hai bước thì lại dừng lại.
“Ngươi là người mới à?”
“Bẩm Thái hậu, nô tỳ đến đây được gần một tháng rồi ạ.”
“Có vất vả không?”
Câu hỏi này nghe đậm mùi hiện đại. Những vị Thái hậu bình thường sẽ chẳng bao giờ hỏi cung nữ có vất vả không, họ chỉ hỏi “Trà đã pha xong chưa” mà thôi.