Còn về việc sau biến cố, hắn đã oán hận đến nhường nào, đã nghiến răng nghiến lợi mắng nhiếc, nguyền rủa ta ra sao, thậm chí có từng bật khóc vì bị người mình tin tưởng phản bội hay không, ta đã chẳng còn cách nào biết được nữa.
Rời khỏi gánh hát, ta đeo đao lên lưng, nhảy lên ngựa, phi thẳng về phía Đông.
Chỉ cần không ở lại nơi này, đi đâu cũng được.
Dọc đường, vừa ăn bánh bột, ta vừa suy nghĩ rất nhiều.
Dường như tất cả kẻ thù của ta đều đã bị trừng trị rồi, những người từng gây nên t/h/ả/m kịch của Cố gia đã lần lượt mất đi quyền thế, thậm chí phải trả giá bằng mạng sống.
Nhưng thực sự là như vậy sao?
Ta dừng ngựa, ngoảnh đầu nhìn về phía kinh thành đang dần chìm trong làn tuyết trắng.
Triệu ma ma sẵn lòng tin vào thuật đ/á/n/h lạc hướng của ta, bởi bà ta vốn đã tin rằng Thu Lâm ngày càng ngang ngược, sớm muộn gì cũng sinh lòng phản trắc.
Trong mắt bà ta, g/i/ế/c Thu Lâm chính là trừ bỏ một mối họa ngầm.
Bởi vậy, dù đám lưu dân cướp y phục một mực khẳng định rằng bọn họ chẳng hề quen biết ai tên Thu Lâm, Triệu ma ma vẫn tin chắc ả đã phản bội mình.
Đám quan sai phủ Thuận Thiên sẵn lòng tin rằng Triệu ma ma treo cổ tự vẫn, bởi bọn họ tin rằng để vụ án dừng lại ở một mình Triệu ma ma là kết cục có lợi nhất cho tất cả.
Cho nên dù những mảnh vỡ của ô cửa sổ lưu ly rơi bên ngoài phòng rõ ràng chứng tỏ cửa bị đập vỡ từ bên trong, bọn họ vẫn làm ngơ, tuyệt nhiên không nhắc đến.
Bậc Cửu Ngũ Chí Tôn sẵn lòng tin ba gia tộc quyền thần đã phản bội mình, bởi trong lòng ông ta vốn đã muốn tin rằng ba nhà cấu kết với nhau ấy từ lâu đã nuôi dã tâm bất thần.
Loại bỏ bọn họ, dựng lên những thế lực mới để nắm quyền mới là cách có lợi nhất cho hoàng đế.
Bởi vậy, dù một quyền thần đã ngoài bốn mươi tuổi lại sơ suất đến mức kẹp lẫn bằng chứng tự buộc tội mình trong tấu chương, hoàng đế cũng chẳng mảy may nghi ngờ.
Vậy còn vụ án oan của Cố phủ năm xưa thì sao?
Kẻ đã tin tất cả những chứng cứ giả mạo, rồi cuối cùng thúc đẩy cả t/h/ả/m kịch ấy xảy ra, ngoài người đó ra còn có thể là ai?
Vào thời điểm quân phản loạn đang tiến về phía Bắc, khiến ba gia tộc quyền thần vốn tạo thành thế chân vạc cùng nhau biến mất, liệu đó có thực sự là một nước cờ sáng suốt?
Hay chẳng qua người ngồi trên ngai vàng đã vì nỗi nghi kỵ của chính mình mà tự c/h/ặ/t đứt những cánh tay đắc lực nhất, để rồi đẩy cả giang sơn vào một tình thế còn nguy hiểm hơn trước?
Ta đột ngột ghìm cương quay đầu ngựa, rồi thúc ngựa phi như bay về phía Nam.
Phương Nam lúc này đã chẳng còn thái bình.
Hoàn Vương khởi binh tại Kim Lăng, dựng cao ngọn cờ thanh trừ gian thần bên cạnh quân vương, mũi kiếm chĩa thẳng về kinh thành.
Trong tay ông ta nắm giữ sáu quận miền Đông Nam, binh hùng tướng mạnh, lại được các thế gia vọng tộc Giang Nam hết lòng ủng hộ, bởi vậy đại quân một đường tiến về phía Bắc đã liên tiếp công phá nhiều châu thành.
Không phải triều đình chưa từng phái binh xuống Nam dẹp loạn, chỉ là quân Trấn Bắc vừa phải chịu tổn thất nặng nề, lại không giỏi thủy chiến, nên đôi bên vẫn giằng co dọc tuyến sông Hoài, đ/á/n/h mãi chẳng phân thắng bại.
Ta cưỡi ngựa, tránh những tuyến đường quan lớn, một mạch xuôi về phương Nam.
Dọc đường, ta gặp vô số đoàn người chạy nạn, lũ lượt kéo nhau lên phía Bắc, người già chống gậy, phụ nữ bế con, những đứa trẻ gầy gò bám c/h/ặ/t vạt áo người lớn, trên gương mặt ai nấy đều hiện rõ vẻ mệt mỏi và tuyệt vọng.
Người đi rồi, thôn làng bỏ hoang, ruộng đồng chẳng còn ai cày cấy.
Năm ấy Giang Nam không hề gặp hạn hán, thế mà ở Tứ Châu, người ta đã phải ăn thịt lẫn nhau để sống.
Đến bên ngoài thành Kim Lăng, con ngựa của ta cuối cùng cũng kiệt sức đổ rầm xuống đất.
Ta rút đao xẻ thịt ngựa, chia cho những đứa trẻ ăn xin lang thang dọc đường rồi một mình bước qua cổng thành.
Viên lại nhỏ canh cổng muốn tra hỏi lai lịch và kiểm tra giấy thông hành, nhưng ta chẳng có thứ ấy.
Cũng phải cảm tạ Chu Uy Hàm.
Những gì ta lấy được từ phủ hắn nào chỉ có một bức mật thư.
Bản đồ bố phòng cùng kế hoạch tác chiến của quân Trấn Bắc tại tuyến sông Hoài đã trở thành lễ vật đầu hàng quý giá nhất của ta.
Sau khi xem qua những thứ ta mang tới, đám quan lại canh thành không còn dám tùy tiện làm khó, chẳng những cho ta vào mà còn đưa ta đến yết kiến Hoàn Vương.
Hoàn Vương là cháu gọi tiên đế bằng chú, đồng thời cũng là anh họ của đương kim hoàng đế.
Ông ta đã ngoài ba mươi, khuôn mặt vuông vức, đôi tay lớn, tướng mạo hiền từ phúc hậu, trông có phần giống người mang duyên với cửa Phật.
Ta theo chân cung nhân từng bước tiến vào đại điện.
Trong điện không chỉ có Hoàn Vương, bên cạnh ông ta còn có một mưu sĩ cao gầy đang khom mình đứng hầu.
Người ấy có làn da trắng như tuyết, gương mặt nhẵn nhụi, không râu ria, thoạt nhìn đã biết không phải người bình thường.
Đó chính là Trình Huyền, một tâm phúc được Hoàn Vương hết sức tin dùng, xuất thân từ hàng hoạn quan.
Hà Thế Thu, viên nội hoạn từng được đương kim thánh thượng hết mực sủng tín, chính là người mà Trình Huyền nhận làm cha nuôi.
Ta dùng hai tay nâng bản đồ quá đỉnh đầu, kính cẩn dâng lên.
"Xin đại vương xem qua. Tuyến phòng thủ chính diện của quân Trấn Bắc dọc sông Hoài vô cùng nghiêm ngặt, nhưng phía Đông lại có một vùng đầm lầy tự nhiên rộng lớn. Địa thế dễ thủ khó công nên binh lực trấn giữ khá mỏng, nếu đ/á/n/h vào nơi ấy, ắt có thể khiến địch trở tay không kịp."
Hoàn Vương xem xong khẽ bật cười, giọng điệu vô cùng hòa nhã.
"Ngươi là ai? Vì sao lại đến dâng bản đồ này?"