Đến khi thấy chiếc đòn gánh quen thuộc xuất hiện ở đầu đường, ta mới vội cúi đầu giả vờ đọc sách thật chăm chú.
Đại thúc bán bánh đi đến trước cửa y quán rồi bỗng khựng lại.
Trước cửa Tế Sinh Đường hôm nay có thêm bốn bộ bàn ghế cùng một tấm biển dựng bên đường.
Ông gánh hàng đi qua mấy bước, lại quay đầu trở lại.
Ông nhìn tấm biển hồi lâu, cuối cùng đọc chậm từng chữ: “Vương Ký Bánh.”
Ta lúc ấy mới đặt sách xuống, giả vờ như vừa trông thấy ông, thong thả bước ra ngoài.
Đại thúc chỉ vào tấm biển, cười đến hai mắt đỏ hoe: “Chữ đẹp thật.”
“Đẹp lắm.”
Ta nói: “Con nhờ lão tú tài ở Sái Thủy Hạng viết giúp.”
“Bàn ghế là đồ phủ nha không dùng nữa, con thấy vẫn chắc chắn nên mặt dày xin về.”
“Nếu đại thúc không chê, sau này cứ bày hàng ở đây.”
Thật ra chữ trên biển là do Trình công t.ử viết.
Bốn bộ bàn ghế cũng là ta mua mới từ chỗ lão thợ mộc phía nam thành.
Gỗ không quý, nhưng mỗi chân bàn chân ghế đều lành lặn, dùng lâu cũng không sợ đổ.
Tây Nhai vốn là con đường đông người qua lại nhất trong thành.
Ngoài những hộ có cửa hàng cố định như ta, phần lớn tiểu thương chỉ gánh hàng hoặc bưng khay đi khắp nơi rao bán.
Ai đến sớm thì chiếm được góc tốt, ai đến muộn chỉ đành chen vào chỗ khuất.
Tế Sinh Đường nằm ở gian thứ hai trên phố, người qua đường gần như ai cũng phải đi ngang.
Đối với người bán hàng rong, khoảng trống trước cửa ta chính là nơi không thể tốt hơn.
Trước đây, ngày nào đại thúc cũng phải thức trước tiếng gà gáy gần hai canh giờ, lội qua sương sớm để tranh một góc nhỏ trên Tây Nhai.
Từ nay có bàn ghế trước Tế Sinh Đường, ông không cần liều mạng với người khác vì một chỗ đặt gánh nữa.
Đại thúc sờ bên hông, móc ra hơn mười đồng tiền định nhét cho ta.
Ông nói: “Nha đầu, thúc gửi con chừng này trước.”
“Hôm nay bán hết bánh, thúc lại đưa thêm.”
Vừa lúc có khách tới mua bánh, ta vội đẩy tay ông về.
Ta nói: “Đại thúc mau cất tiền đi, còn phải dùng làm vốn.”
“Hôm nay con phải đến phủ nha, lại nhờ thúc trông cửa hàng giúp.”
Ông bận tay gói bánh, chẳng buồn ngẩng đầu, chỉ phất phất tay: “Đi đi, cứ giao cho thúc.”
Liên tiếp nửa tháng sau đó, ta ngày nào cũng đến phủ nha thay t.h.u.ố.c cho tiểu thư Tri phủ.
Quen thân rồi, ta mới biết nàng tên Viên Viên.
Cũng đến lúc ấy nàng mới thú nhận, hôm bị thương không phải vô ý trượt chân như hạ nhân nói.
Nàng ham chơi trèo cây, lúc tụt xuống mới sơ ý ngã vào bụi nguyệt quý cạnh thùy hoa môn.
Sau chuyện ở phủ nha, Tế Sinh Đường dần dần có người tìm đến.
Có người vào bắt mạch, có người đến mua t.h.u.ố.c, cũng có những gia đình quyền quý trong thành phái xe tới mời ta vào phủ điều dưỡng thân thể cho nữ quyến.
Việc làm ăn khá lên, nhưng ta lại nảy thêm một nỗi phiền lòng.
Hễ bước vào nhà quyền quý, ít nhất cũng mất hai canh giờ mới trở về được.
Đại thúc bán bánh có thể giúp ta giữ cửa, nhưng ông không biết y thuật.
Nếu có bệnh nhân cần gấp mà gặp đúng lúc ta vắng mặt, rất dễ lỡ mất việc.
Có một hôm ta bị giữ ở Doãn gia suốt nửa ngày.
Khi trở về, trước cửa Tế Sinh Đường có một phụ nhân trẻ đang bế đứa bé trong lòng, bên cạnh còn một đứa lớn hơn nắm c.h.ặ.t vạt áo nàng.
Vừa thấy ta, phụ nhân ấy lao tới, hai chân mềm nhũn rồi quỳ xuống.
Nàng khóc: “Cô nương, xin cứu con ta.”
Nàng nhất quyết không chịu đến y quán khác, bởi những nơi kia khám một lần phải trả năm mươi văn.
Tế Sinh Đường của ta chỉ lấy ba mươi văn.
Ba mươi văn ấy đã là tiền trượng phu nàng thức trắng một đêm đốn mười bó củi mới đổi được.
Ta sờ trán đứa trẻ, lại bắt mạch một lượt rồi nói: “Trẻ nhỏ phát sốt là chuyện thường gặp.”
“Nương t.ử đừng hoảng.”
“Khi người đứa bé nóng, trước hết dùng nước ấm lau mình hạ nhiệt.”
“Nếu qua ba ngày vẫn không hạ sốt, lại đem bé tới tìm ta.”
Phụ nhân vẫn lo lắng, ta bèn tự mình làm cho nàng xem.
Ta lấy chậu gỗ, ra đầu phố múc một thùng nước mát, lại sang quầy Vương thúc xin ít nước nóng, pha thành nước ấm rồi dùng khăn vải mềm lau người đứa trẻ.
Chưa đến một nén nhang, nhiệt trên người bé đã dịu xuống thấy rõ.
Ta chỉ thu một văn tiền tượng trưng làm phí khám.
Sau đó, ta lại sang quầy Vương thúc mua năm chiếc bánh cùng ba bát hoành thánh, gói cho ba mẹ con mang về.
Vương thúc ghé sát tai ta, nhỏ giọng nói: “Nha đầu, làm ăn như con thế này sẽ lỗ vốn.”
Ta cũng ghé sang, nói nhỏ lại: “Thúc ngày nào cũng mang bánh với hoành thánh cho con ăn, vậy chẳng phải thúc cũng lỗ sao?”
Vương thúc nghẹn lời, chỉ biết cười.
Từ ngày có chỗ cố định trước Tế Sinh Đường, việc buôn bán của ông ngày càng khá.
Ngoài bánh, ông còn bán thêm hoành thánh và mì sợi nhỏ.
Cứ đến lúc mặt trời lên cao, ông lại bưng vào cho ta một bát hoành thánh, còn nhét thêm một chiếc bánh.
Bản thân ông thì ngồi trên bậc cửa, ăn bánh rau dại, uống nước lạnh cho qua bữa.
Hoành thánh nhân rau tề và thịt tươi rất thơm, giá còn cao hơn một bát mì sợi nhỏ đúng ba văn tiền.
Thời gian thấm thoắt trôi đến mùng bảy tháng Mười.
Nhờ tiền khám bệnh cùng những khoản thưởng của các nhà quyền quý, ta đã để dành được hơn ba trăm lạng bạc.
Đúng lúc ấy, ta nghe nói có một căn tiểu viện cách Tế Sinh Đường chỉ một con phố đang được rao bán qua người môi giới.
Chủ cũ gặp nạn, căn viện chỉ có một lớp sân nhưng giá bán một trăm hai mươi lạng.
Ta tính toán số bạc đang có, thấy mua được, liền lập tức đi xem nhà.