Chương 7
“Anh đã làm lại một thẻ lương và gửi tiền vào đó. Trước kia anh cho rằng đưa tiền cho em chính là yêu, bây giờ mới hiểu, đó chỉ là cách thể hiện ít tốn công nhất của anh.”
Quý Lâm ngồi trong căn hộ thuê tạm ở Giang Thành, trước mặt cũng là một quyển sổ thu chi còn trống.
Anh thử ghi sổ như tôi lúc trước.
Điện nước, tiền thuê nhà, tiền t/h/u/ố/c, ba bữa một ngày.
Viết đến trang thứ ba, anh bỗng dừng.
Hóa ra trong cuộc sống có nhiều thứ vụn vặt thế này.
Ba năm qua, những thứ này chưa từng quấy rầy anh.
Không phải vì chúng không tồn tại.
Mà vì đã có người thay anh gánh vác.
Anh đứng dậy rót nước, ấm nước trống không.
Trong tủ lạnh chỉ có hai chai nước khoáng và nửa túi bánh mì gối hết hạn.
Anh đứng trong bếp, các ngón tay tì lên mép bệ bếp, cúi đầu cười một tiếng.
Cười một lúc, vành mắt anh lại đỏ lên.
Điện thoại reo, là mẹ Quý.
“Còn chưa ngủ?”
“Vâng.”
“Phía An An, có tin gì không?”
Quý Lâm nhìn tờ mã vận đơn trên bàn sau khi gửi bưu kiện, giọng khản đặc.
“Không có.”
Mẹ Quý thở dài một hơi: “Buông tha người ta đi, cũng buông tha chính con.”
Quý Lâm không trả lời.
Anh đi đến ban công, dưới nhà có một đôi tình nhân dắt ch/ó đi dạo.
Suốt dọc đường, cô gái nói không ngừng; chàng trai cúi đầu lắng nghe, thi thoảng mỉm cười.
Quý Lâm nhìn rất lâu, đến khi gió thổi làm anh ho lên, mới quay người vào nhà.
Cốc sứ trên bàn đã gửi đi.
Cuối cùng anh cũng hiểu câu “Nghe Lâm An nói chuyện”.
Nhưng tôi đã không cần anh nghe nữa.
Tôi lật sổ đến cuối.
Trang cuối chỉ có một câu.
“Cuối cùng anh cũng hiểu, em im lặng không phải vì đã trưởng thành, mà vì không còn cần anh nữa.”
Tôi khép sổ.
Chậu bạc hà trên bệ cửa sổ khẽ lay trong gió.
Thẻ ngân hàng nằm ở đáy hộp.
Tôi không kiểm tra số dư, cũng không do dự.
Tôi cầm kéo, cắt ngang dải từ, chia tấm thẻ thành hai nửa.
Một tiếng rắc, rất dứt khoát.
Tôi nắm chiếc cốc sứ trắng trong tay.
Đó là thứ duy nhất khiến tôi chần chừ.
Không phải vì lưu luyến Quý Lâm.
Chỉ là thương bản thân năm ấy, đến một câu đùa cũng tin là lời hứa.
Tôi đặt cốc vào túi giấy, đi đến điểm phân loại rác dưới nhà.
Khi tay buông ra, cốc rơi vào thùng tái chế, phát ra một tiếng khẽ.
10
Khi mùa xuân đến, tôi chuyển đến ven biển phía nam.
Nhà có một sân nhỏ, trong sân có một cây chanh rất già.
Chủ nhà nói cây ít ra quả, tôi không để ý, chỉ đặt một chiếc bàn nhỏ dưới cây.
Vết thương mờ đi, chỉ còn một đường nhạt màu.
Không nhìn kỹ thì gần như chẳng nhận thấy.
Tôi nhận công việc viết bài ổn định, cuộc sống không mấy náo nhiệt, nhưng rất yên ổn.
Sáng sớm dắt ch/ó đi dạo, buổi sáng viết bài, buổi chiều đến chợ mua cá.
Con Samoyed ấy được tôi nhận nuôi từ trạm cứu hộ.
Nó rất bám người, mỗi ngày ngậm bóng đuổi theo sau tôi, như có bao nhiêu lời muốn nói mãi không hết.
Tôi ngồi xổm xuống xoa đầu nó.
“Nói chậm một chút, chị đang nghe đây.”
Thỉnh thoảng, điện thoại tôi lại nhận được tin nhắn từ bạn cũ ở Giang Thành.
Thẩm Giai nói, về sau Quý Lâm rời vị trí vốn đang có triển vọng thăng tiến, đến một chi nhánh rất bình thường.
Cô ấy nói bây giờ anh hiếm khi tụ tập, trở nên trầm lặng hẳn.
Có lần trong một buổi tụ tập bạn bè có người nhắc đến tôi, Quý Lâm bưng cốc trà ngồi rất lâu, cuối cùng chỉ nói một câu: “Cô ấy sống tốt là được.”
Tôi trả lời Thẩm Giai: “Đừng kể với tớ về anh ấy nữa.”
Thẩm Giai gửi đến một chữ “Được”.
Ở Giang Thành, sau khi tăng ca tại chi nhánh, Quý Lâm trở về căn hộ thuê để sống một mình.
Trong nhà rất gọn gàng, gọn gàng đến mức không có hơi ấm của người ở.
Anh treo áo khoác xong, tự đun nước, tự nấu mì, tự rửa bát.
Làm xong những việc này, anh ngồi trước bàn viết, mở một quyển sổ tay mới.
Suốt năm ấy, anh vẫn giữ thói quen ghi chép.
Chỉ là không gửi đi nữa.
“Hôm nay trời mưa, nhớ trước kia cô ấy rất sợ đi đường ban đêm.”
Viết xong câu này, anh dừng rất lâu.
Sau đó gạch đi.
Viết lại.
“Hôm nay mưa. Nhớ mang ô.”
Anh khép sổ, tắt đèn.
Ngoài cửa sổ, tiếng mưa rả rích, trong nhà không có người thứ hai nói chuyện.
Đây chính là quãng đời còn lại của anh.
Không quá t/h/ả/m thiết, chỉ dài đằng đẵng.
Một mình chậm rãi học cách lắng nghe, nhưng vĩnh viễn mất đi tư cách được cô ấy chia sẻ.
Vào một buổi chiều nắng đẹp, tôi nhận được món đồ cuối cùng gửi đến từ Giang Thành.
Trong bưu kiện không có thư, chỉ có một cái kẹp cà vạt màu bạc.
Đó là chiếc kẹp Quý Lâm thường không tìm thấy mỗi sáng ra khỏi nhà, trước kia vẫn do tôi cất cẩn thận cho anh.
Bên dưới kẹp cà vạt là một tờ giấy nhắn.
“Tìm thấy đồ cũ, anh mới nhận ra trước kia em đã chăm lo cho cuộc sống của anh quá chu đáo. Bây giờ trả cho em xử lý.”
Tôi liếc qua rồi vò tờ giấy nhắn lại.
Kẹp cà vạt không có gì để xử lý.
Tôi bước ra sân, Samoyed đang nằm dưới cây chanh phơi nắng.
Trên chiếc bàn nhỏ là nước chanh vừa pha.
Tôi ném chiếc kẹp cà vạt xuống đáy hộp dụng cụ, dùng nó kẹp kín một túi thức ăn cho ch/ó chưa dùng hết.
Vừa khít.
Chiều xuống, gió biển thổi vào sân.
Bé gái nhà hàng xóm nhoài người trên bờ tường hỏi tôi: “Chị ơi, mỗi ngày chị ở một mình không buồn chán sao?”
Tôi đang chải lông cho Samoyed, nghe vậy liền ngẩng đầu mỉm cười.
“Không buồn chán.”
Cô bé lại hỏi: “Vậy sao chị không nói chuyện với người khác ạ?”
Samoyed bỗng đẩy quả bóng đến cạnh chân tôi, đuôi vẫy tíu tít.
Tôi nhặt bóng lên, ném về phía đầu kia sân.
Nó lập tức đuổi theo.
Tôi nhìn nó chạy xa, chậm rãi uống một ngụm nước chanh.
“Bởi vì bây giờ, chị không cần nói với người không nghe nữa.”
Gió luồn qua những tán lá chanh.
Nắng đậu trên mu bàn tay tôi, ấm áp vừa đủ.
HẾT