Mà cuộc sống của ta cũng chẳng khá hơn là bao.
Y phục ta mặc đều được may từ những tấm vải mà các di nương khác đã chọn bỏ lại.
Bánh điểm tâm cũng chỉ là phần thừa chẳng ai muốn lấy từ tiểu chủ phòng.
Lục Di Nương mắc chứng dị ứng với hoa đào, thế là nương ta lén xé vụn những cánh hoa, trộn vào bánh điểm tâm.
Nhờ vậy, ta mới có cơ hội được ăn bánh hoa quế vừa làm.
Có lần, một nha hoàn phụ trách y phục của đại thái thái bị nhiễm phong hàn sau khi trúng gió.
Trong lúc giặt giũ, nàng ta chẳng hiểu vì sao lại để lẫn một tấm lụa mới, khiến thứ vải thượng hạng ấy rơi xuống giếng.
Cuối cùng, ta mới có được một bộ y phục mới may bằng gấm Tô Châu.
Thế nhưng, vào năm ta sáu tuổi, ta bất ngờ lên cơn sốt cao, có lúc mê man đến bất tỉnh.
Nương chẳng có cách nào khác, chỉ có thể đứng chờ ngoài cổng viện của Ngũ Di Nương, hết lần này đến lần khác đau khổ van xin.
Phụ thân không chịu mở cửa.
Bà chỉ ngây người đứng bên ngoài, miệng lặp đi lặp lại những lời tình tứ mà năm xưa ông ta từng nói với mình.
Bên trong viện, tiếng nữ t/ử cười đùa, nói năng yêu kiều không ngừng vang lên.
Gió tuyết gào thét ngoài trời, gần như át đi toàn bộ tiếng cầu xin của nương.
Ta bò xuống giường, chân trần bước ra sân.
Gió cuốn theo những hạt tuyết lạnh buốt quất vào mặt, cứa da thịt đau rát.
Ta bưng chậu nước lạnh dùng để tưới hoa, dội thẳng từ đỉnh đầu xuống.
Cái lạnh thấu tận xương tủy, đau đớn chẳng khác nào có thứ gì đó đang khoét sâu vào tim gan.
Hôm ấy, ta ngã nhào trên nền tuyết, nhưng vẫn cố gắng gượng dậy, từng chút một bò về phía cổng viện.
Mãi đến khi ta gần như tắt thở, cuối cùng mới có người chịu đi tìm hàng xóm giúp đỡ.
Nhờ vậy, ta mới được uống một bát t/h/u/ố/c nóng hổi.
Từ ngày ấy, ta hiểu ra rằng trên đời này chẳng ai vô duyên vô cớ đem những thứ tốt đẹp dâng tận tay mình.
Muốn có được thứ gì, ta chỉ có thể dựa vào chính mình.
Ta phải biết dỗ dành, lừa gạt, tính toán, phải tranh giành và cướp đoạt.
Năm ta mười ba tuổi, cuối cùng nương cũng tìm được cơ hội đổi đời.
Bà bày kế cứu một vị quý nhân, sau đó dựng lên vô số lời nói dối, cuối cùng cũng kiếm được mối quan hệ họ hàng xa với Trấn Viễn Hầu phủ.
Bà dặn dò ta hết lần này đến lần khác, rồi đưa ta lên xe ngựa, tiến về kinh thành.
Sau đó, bà gieo mình xuống giếng.
Kể từ ấy, ta trở thành một vị biểu cô nương có mẫu thân qua đời từ sớm, không nơi nương tựa, phải sống nhờ trong Hầu phủ.
Khi mới đến đây, lòng ta lúc nào cũng tràn ngập cảnh giác.
Ta cứ ngỡ một gia đình huân quý sống trong nhung lụa như Hầu phủ ắt phải có gia quy nghiêm ngặt, bên trong đầy rẫy những cuộc tranh đấu ngấm ngầm.
Thế nhưng, trong gia yến đêm giao thừa, Hầu gia lại chỉ vì phu nhân uống thêm một ngụm rượu lạnh mà cằn nhằn mãi không thôi.
Ông thậm chí còn tự tay lấy chén rượu đi, đổi thành một bát canh nóng.
Vương Tịnh Hoài thì xắn tay áo trắng muốt, cẩn thận bóc từng lớp vỏ hạt dẻ, sau đó đặt phần nhân vàng óng trước mặt Tần Lạc Dao vừa tan học trở về.
Ngay cả khi nha hoàn làm việc nặng tay, vô ý đ/á/n/h vỡ một chiếc chén trà quý giá, chủ t/ử cũng chỉ nhẹ giọng trách mắng đôi câu, rồi bảo người mau lấy chổi quét sạch mảnh vỡ, tránh để ai giẫm phải mà bị thương.
Mỗi người trong phủ dường như đều luôn giữ trên môi nụ cười ôn hòa.
Đúng là một gia đình kỳ lạ.
Ta không sao hiểu nổi, trên đời này tại sao lại có một gia đình như vậy.
Khi ấy, ta thường lặng lẽ trốn sau những cây cột nơi hành lang, nhìn cả nhà họ vui vẻ cười đùa trong hoa sảnh.
Ánh lửa từ lò than đỏ rực bập bùng nhảy múa, soi sáng gương mặt nghiêng của Vương Tịnh Hoài.
Hắn mắc chứng hư lao từ nhỏ, làn da trắng bệch đến gần như trong suốt.
Mái tóc đen nhánh tựa gỗ mun được vấn hờ bằng một cây trâm bạc giản dị.
Hàng mi dài khẽ rủ xuống, để lại dưới mắt một vùng bóng xanh sẫm.
Có lần, hắn ngước mắt nhìn sang, phát hiện ta đang lén lút trốn sau cột hành lang.
Hắn chẳng những không trách cứ, ngược lại còn mỉm cười vẫy tay gọi ta đến.
Hắn để ta ngồi bên cạnh mình, rồi bóc một quả quýt mật vừa nướng chín, tỏa hương thơm ngọt, đặt vào lòng bàn tay ta.
Mỗi khi thiếu niên ấy mỉm cười, đôi mày và khóe mắt đều cong lên, toát ra vẻ dịu dàng khiến người khác khó lòng chống đỡ.
Ta siết c/h/ặ/t quả quýt mật vẫn còn âm ấm, lặng lẽ giấu nó vào trong tay áo.
Ta không nỡ ăn, cũng chẳng muốn để người khác nhìn thấy.
Thế nhưng, lòng tham trong ta lại ngày một lớn hơn, chỉ muốn có được nhiều hơn nữa.
Ta luôn nghĩ rằng chẳng ai vô duyên vô cớ trao những thứ tốt đẹp cho mình.
Muốn có được chúng, ta phải tự tranh giành, tự cướp lấy, phải hao tâm tổn trí mà tính kế.
Vì vậy, ta bắt đầu nhắm đến Vương Tịnh Hoài, người có thân phận tôn quý nhất, đồng thời cũng là người dịu dàng nhất trong Hầu phủ.
Nhưng những mưu tính của ta chẳng thể qua mắt Tần Lạc Dao.
Nàng vốn là công chúa cành vàng lá ngọc, chỉ vì mệnh cách khi sinh ra bị cho là xung khắc với đế vương, nên mới được Trấn Viễn Hầu nhận làm nghĩa nữ, gửi nuôi trong phủ từ nhỏ.
Nàng luôn mặc những bộ váy sa đỏ thêu chỉ vàng rực rỡ nhất, trên người đeo những viên minh châu sáng ngời nhất.
Mỗi lần nhìn ta, nàng đều hơi ngẩng cằm, chẳng hề che giấu vẻ khinh miệt trong đáy mắt.
Vào đêm lễ Khất Xảo, trong phủ dựng một tòa lầu trưng bày hoa đăng rực rỡ.
Ta để mắt đến một chiếc đèn kéo quân bằng lưu ly có tám cạnh.
Vì muốn có được nó, ta cố ý cầm b/út đề thơ trước mặt đông đảo nữ quyến.
Từng câu từng chữ đều chất chứa nỗi sầu thanh nhã, khiến mọi người liên tục cảm thán, hết lời khen ngợi.
Thực ra, ta chẳng có chút tài hoa nào.
Bài thơ ấy đã được ta bỏ tiền thuê một vị tú tài sáng tác từ lâu.
Ta còn lén học thuộc suốt một thời gian dài, chỉ để cố ý giành vị trí đứng đầu trong đêm hôm ấy.
Ta vốn nghĩ rằng làm như vậy sẽ khiến Vương Tịnh Hoài để mắt đến mình.
Nào ngờ, còn chưa kịp đợi hắn xuất hiện, ta đã thấy Tần Lạc Dao sải bước tiến đến.
Nàng giật lấy chiếc đèn rồi ném mạnh xuống đất.
Lưu ly vỡ tan thành từng mảnh, ngọn nến bên trong nhanh ch/óng thiêu cháy lớp lụa tơ tinh xảo.
Nàng cười lạnh, cây trâm bộ diêu bằng vàng ròng trên đầu khẽ lay động:
“Bài thơ này vốn là tác phẩm của Dịch An cư sĩ, từ bao giờ lại biến thành của ngươi?”
“Đông Thi bắt chước Tây Thi, cuối cùng chỉ tự chuốc lấy nhục nhã.”
Hốc mắt ta đỏ hoe, chỉ biết cúi gằm đầu.