“Tỷ tỷ, thuật b.ắ.n cung của đệ lại tiến bộ rồi. Ngoài ba trăm bước có thể b.ắ.n xuyên lỗ vuông giữa đồng tiền.”

“Tỷ tỷ, gần đây tỷ bận gì? Sao Cố Thái phó cứ chạy tới Hàn Lâm viện mãi thế?”

Mắt hắn sáng lấp lánh, mang sức sống rực rỡ của thiếu niên.

Nhưng dưới vẻ rực rỡ ấy, ta nhìn thấy một tầng sâu hơn.

Hắn vẫn đang quan sát ta.

Quan sát phản ứng của ta, ý nghĩa trong lời ta, những biến hóa nhỏ nhất trên gương mặt ta khi nghe hắn nói những chuyện này.

Giống như ta, hắn chưa từng thật sự buông lỏng.

Ta cười đáp:

“Ta bận gì được? Đọc sách, viết chữ, trồng hoa. Đệ không ở đây, mẫu đơn trong Ngự uyển cũng chẳng có ai ngắm.”

“Vậy đệ trở về.” Hắn nói.

“Trở về làm gì?”

“Trở về ngắm hoa cùng tỷ.”

Hắn đứng dậy, chỉnh lại áo bào rồi đi ra ngoài.

Đi tới cửa, hắn đột nhiên quay đầu, lấy từ trong n.g.ự.c ra một tờ giấy được gấp ngay ngắn, đặt lên bàn.

“Cho tỷ.”

Nói xong liền sải bước rời đi.

Ta mở tờ giấy ra.

Là một bức tranh.

Trong tranh vẽ mẫu đơn ở Ngự uyển, mực nhạt đến mức gần như tan ra, chỉ vài nét đã phác được dáng hoa.

Bên cạnh đề hai dòng chữ nhỏ:

“Xuân năm Trường Hy thứ mười bốn, cùng tỷ ngắm mẫu đơn, hẹn sang năm lại thưởng.

Nếu sang năm chưa về, xin tỷ thay đệ ngắm hoa.”

Đầu ngón tay ta khẽ run.

Hắn đặt bức tranh xuống rồi đi, như thể chỉ tiện tay để lại một thứ chẳng đáng nhắc tới.

Nhưng câu “nếu sang năm chưa về” giống như bốn chiếc đinh nhỏ, không nặng không nhẹ ghim vào lòng ta.

Sang năm là Trường Hy năm thứ mười lăm.

Hắn mười bốn tuổi.

Kiếp trước, chính vào năm mười bốn tuổi, hắn lần đầu theo quân xuất tái, đ.á.n.h trận đầu tiên trong đời.

Thì ra hắn đều nhớ.

Từng chuyện, từng chuyện một, hắn đều nhớ.

Ta cẩn thận cất bức tranh ấy đi, kẹp giữa chồng bản thảo thư từ của Thanh Nhai tiên sinh.

Đó là lần đầu tiên ta cảm thấy giữa chúng ta ngoài tranh giành ra, có lẽ còn có thứ khác.

Nhưng ta vẫn không dám thừa nhận.

Mùa thu năm Trường Hy thứ mười lăm, biên báo vào kinh.

Bộ tộc Hô Diên liên hợp ba bộ khác đưa quân nam tiến, tiền phong đã tới ngoài Bạch Lang quan hơn một trăm dặm.

Biên quân Đại Thịnh không đủ binh lực, khẩn cấp dâng tấu xin triều đình tăng viện.

Phụ hoàng triệu tập quần thần ngay trong đêm để thương nghị.

Trên triều cãi nhau thành một đoàn.

Có người chủ hòa, có người chủ trương tăng binh.

Nghị hòa.

Cắt đất.

Đưa công chúa đi.

Giống hệt kiếp trước.

Kiếp trước cũng cãi nhau như vậy, cuối cùng chọn một con đường được cho là ổn thỏa nhất.

Đưa một vị công chúa sang đó, đổi lấy ba năm thái bình.

Sau đó ta mặc hỉ phục, ngồi xe liễn suốt một tháng, bước lên đất của bộ tộc Hô Diên ngoài Bạch Lang quan.

Kiếp này, ta không định đi lại con đường ấy.

Ta thức trắng một đêm viết thư.

Đến sáng thì niêm phong, giao cho một lão ma ma trong Tê Ngô cung.

“Đưa tới Kinh Kỳ đại doanh, giao cho hoàng t.ử.”

Ma ma không hỏi nhiều, nhận thư rồi đi.

Trong thư chỉ có một câu:

“Đệ thắng, ta ra cửa thành đón đệ. Đệ thua, ta tới Bạch Lang quan đón đệ.”

Ta không viết bảo trọng, không viết bình an, cũng không viết đợi đệ trở về.

Những lời ấy quá nhẹ.

Nhẹ như một hơi thở, gió thổi qua là tan.

Ta chỉ nói với hắn một điều.

Thắng, ta đón hắn.

Thua, ta cũng đón hắn.

Lời ấy nặng hơn bất kỳ câu nào kiếp trước hắn từng nói với ta.

Ba ngày sau, Bùi Độ dẫn ba nghìn tinh kỵ của Kinh Kỳ đại doanh tiến về phương Bắc.

Hắn không hồi cung từ biệt, chỉ nhờ người mang về một câu:

“Kinh Sương chạy nhanh, đệ sẽ sớm trở về.”

Ta đứng trên thành lâu, dõi mắt tiễn xa.

Ba nghìn thiết kỵ, giáp trụ vang rền, cờ xí phần phật, kéo thành một con rồng dài trên quan đạo, uốn lượn về phương Bắc.

Ta không nhìn rõ mặt hắn, nhưng nhìn thấy lá đại kỳ ở đầu đội ngũ.

Trên cờ thêu một chữ Phong.

Chữ ấy do chính tay hắn viết.

Không ai biết tại sao hắn lại dùng chữ này làm quân hiệu.

Chỉ mình ta hiểu.

Phong Lang Cư Tư.

Vị thiếu niên tướng quân năm xưa mới mười chín tuổi đã lập nên chiến công bất thế ấy.

Có lẽ trong lòng Bùi Độ đang tự ví mình với người đó.

Ta cười, nhưng nụ cười không trọn vẹn.

Bắc cảnh vào đông rất sớm.

Tháng mười đã có trận tuyết đầu tiên, còn lớn hơn những năm bình thường.

Chiến báo từ biên quan từng phong từng phong đưa về kinh, lúc tốt lúc xấu.

Có lúc nói đã tiến thêm ba trăm dặm, có lúc nói lương thảo không đủ, phải lui về Bạch Lang quan.

Bệnh của phụ hoàng càng lúc càng nặng.

Thái y mỗi ngày ba lần thỉnh mạch, phương t.h.u.ố.c thay mấy lượt, nhân sâm nhung hươu dùng như nước, sắc mặt người vẫn ngày một xám xịt.

Khi phê tấu chương, người thường xuyên thất thần, gọi sai tên cung nhân, thậm chí cầm ngược tấu chương.

Ta biết thời gian còn lại cho mình không nhiều.

Phụ hoàng băng hà, ngôi trữ quân chưa định, trong triều nhất định sẽ loạn.

Bùi Độ đang ở Bắc cảnh, trong tay nắm binh quyền, nhưng hắn không ở kinh thành.

Quyền lên tiếng trên triều sẽ rơi vào tay đám văn thần.

Mà ta đã âm thầm bày quân cờ Thanh Nhai tiên sinh trong giới văn thần suốt ba năm.

Danh tiếng ấy còn vang hơn ta tưởng.

Nhưng vẫn chưa đủ.

Ta cần một thứ có sức nặng hơn.

Tháng Chạp năm Trường Hy thứ mười lăm, ta làm chuyện táo bạo nhất đời mình.

Chiều hôm ấy, ta tới Ngự thư phòng thỉnh an phụ hoàng.

Người nghiêng mình dựa trên giường, đắp một tấm chăn gấm dày, trong tay vẫn cầm nửa quyển tấu chương chưa phê xong.

Thấy ta bước vào, người cười, đặt tấu chương xuống rồi vẫy tay gọi ta.

“Trẫm nghe nói trong dân gian con có một danh hiệu, gọi là Thanh Nhai tiên sinh?”

Bước chân ta khựng lại.

Phụ hoàng không nhìn ta, chỉ nhìn tuyết ngoài cửa sổ, giọng bình thản:

“Những thần t.ử trẻ tuổi trong Hàn Lâm viện hai năm nay dâng tấu chương lên, văn phong và kiến giải thay đổi hẳn, trẫm đã sớm nghi ngờ.

Điều tra một phen mới biết Thái phó đứng giữa làm cầu nối.

Thái phó là thầy của trẫm, trẫm tin ông ấy.

Cho nên cũng tin con.”

Chương 4 - Song Sinh Đoạt Đích - Đọc truyện ngôn tình tổng tài bá đạo miễn phí | Lão Phật Gia