Tấm bản đồ của Khâu bà bà cứu mạng chúng ta.
Nhưng bản đồ chỉ có thể chỉ đường, không thể biến ra lương thực.
Mười ngày sau, bánh t.h.u.ố.c và muối đều đã ăn hết.
Ta làm theo lời Khâu bà bà, đào rễ cỏ, bóc vỏ cây, còn từng vớt cá c.h.ế.t từ sông đóng băng.
Tinh ca nhi ăn hỏng bụng, sốt suốt một đêm.
Ta lục hòm t.h.u.ố.c mấy lần, chỉ nhận ra hai loại t.h.u.ố.c Khâu bà bà dạy trước khi mất.
Một loại có thể hạ sốt, chỉ còn ba viên cuối.
Ta không dám dùng hết một lần.
Ta nghiền t.h.u.ố.c, chia thành ba phần, cách hai canh giờ lại cho đệ uống một phần.
Đệ sốt đến mơ màng, liên tục gọi mẫu thân.
Ta ôm đệ ngồi trong chuồng bò bỏ hoang.
Lần đầu tiên ta thật lòng mong Hoắc Chiêu Ninh đột nhiên xuất hiện.
Chỉ cần nàng trở về, ta gọi nàng là gì cũng được.
Nhưng sáng hôm sau, ngoài chuồng bò chỉ có tuyết trắng ngập trời.
Tinh ca nhi hạ sốt, còn ta lại đổ bệnh.
Khi tỉnh lại, bên miệng ta có nửa chiếc bánh bột ngô đen sì.
Tinh ca nhi ngồi xổm bên cạnh, ống quần và mặt giày dính đầy bùn.
“Ở đâu ra?”
Đệ chỉ về thôn cách đó không xa.
“Nhặt dưới đất.”
Ta biết đệ nói dối.
Đầu thôn nuôi ba con ch.ó dữ, ngay cả người lớn cũng không dám tới gần.
Ta kéo tay đệ lại, nhìn thấy một vết c.ắ.n mới trên mu bàn tay.
“Đệ đi trộm đồ?”
Đệ sợ hãi rụt cổ.
“Không phải trộm. Rơi bên cạnh máng heo, heo không ăn.”
Nói rồi đệ bẻ một miếng nhỏ, đưa tới bên miệng ta.
“A tỷ ăn vào sẽ không nóng nữa.”
Ta không ăn.
Ta ôm lấy đệ, cuối cùng nước mắt cũng rơi xuống.
Tinh ca nhi không biết vì sao ta khóc, chỉ dùng mu bàn tay lau mặt cho ta.
“A tỷ đừng sợ. Mẫu thân sẽ tới.”
Cuối cùng, nửa chiếc bánh ấy được chúng ta ngâm trong nước tuyết, mỗi người ăn một miếng.
Sau khi sang xuân, t.h.i t.h.ể ven đường ngày càng nhiều.
Có dân chạy nạn c.h.ế.t rét, cũng có binh sĩ chiến bại bị g.i.ế.c.
Ta không còn sợ người c.h.ế.t như ban đầu nữa, bắt đầu học cách tìm những thứ còn dùng được bên cạnh t.h.i t.h.ể.
Một đôi giày chưa rách.
Nửa viên đá đ.á.n.h lửa.
Một chiếc áo cũ đủ để chắn gió cho Tinh ca nhi.
Mỗi lần lấy một món, ta đều âm thầm nói một tiếng xin lỗi.
Có lần chúng ta gặp một thương đội đang di chuyển về phía nam.
Người quản sự thấy ta biết chữ, liền bảo ta giúp kiểm đếm hàng hóa.
Ta không nói mình là con gái quan viên Hộ bộ, chỉ nói cha mẹ đều c.h.ế.t rồi, muốn dẫn đệ đệ theo xin một miếng cơm.
Mỗi ngày hắn cho chúng ta một bát cháo.
Đổi lại, ta phải đi theo xe suốt cả ngày, buổi tối còn phải trông coi đàn la.
Tinh ca nhi cũng không ngồi không.
Đệ biết nhặt củi, đưa nước, còn biết tự gấp chiếc chăn nhỏ của mình thật ngay ngắn.
Mấy phụ nhân trong thương đội đều khen đệ hiểu chuyện.
Mỗi lần nghe hai chữ ấy, lòng ta lại khó chịu.
Đệ vốn không nên hiểu chuyện như vậy.
Một tháng sau, thương đội bị cướp ở hẻm núi Thanh Thạch.
Ta nghe thấy tiếng đá lăn từ đỉnh núi từ sớm, vội kéo Tinh ca nhi trốn dưới xe hàng.
Trong hỗn loạn, một con la hoảng sợ đ.â.m lật xe.
Thanh xe đè lên chân ta, giãy thế nào cũng không thoát.
Lửa bắt đầu cháy lên thùng hàng.
Tinh ca nhi vốn có thể tự chạy, nhưng lại nhặt đá lên, hết lần này tới lần khác đập vào thanh xe.
“A tỷ đừng sợ. Tinh ca nhi cứu tỷ.”
Tay đệ mài đến chảy m.á.u, hòn đá cũng vỡ.
Ngay khi lửa bén tới bánh xe, một hộ vệ trong thương đội quay trở lại, nâng thanh xe lên cứu ta ra.
Chúng ta sống sót, nhưng thương đội tan tác.
Trước khi rời đi, người hộ vệ cho ta một thanh chủy thủ.
“Đi tiếp về phía nam là huyện Liễu Hà. Nhưng quân phòng thủ Liễu Hà đã rút nửa tháng trước. Bây giờ nơi ấy là địa bàn quân phản loạn.”
Ta mở tấm bản đồ bị lửa cháy mất một góc.
Ngoài Liễu Hà, chúng ta đã không còn nơi nào để đi.
Đêm hôm ấy, sau khi Tinh ca nhi ngủ, ta phát hiện mặt sau bản đồ có một hàng chữ mới viết.
Nét chữ dính m.á.u, rõ ràng không phải Khâu bà bà để lại.
Chỉ có một câu.
“Muốn biết tung tích Hoắc Chiêu Ninh, hãy dẫn hai đứa trẻ tới cầu gãy Liễu Hà.”
Ta nhìn hàng chữ ấy suốt cả đêm.
Người biết thân phận chúng ta không nhiều.
Người biết tên Hoắc Chiêu Ninh càng không nên xuất hiện trong một thương đội lưu vong.
Hàng chữ kia giống một miếng mồi.
Nếu ta dẫn Tinh ca nhi tới đó thật, mắc một trò lừa vụng về như vậy mới là làm nhục gia phong Lục gia.
Thế nhưng dường như ông trời không định buông tha chúng ta.
Ta dẫn Tinh ca nhi trà trộn vào dân lưu lạc, chép thư nhà thuê đổi lấy nửa bát cháo loãng.
Khi gặp người bệnh, ta lấy t.h.u.ố.c Khâu bà bà để lại ra.
Ta không biết nhiều d.ư.ợ.c liệu, nhưng dần dần học được cách phân biệt phong hàn, ngoại thương và kiết lỵ.
Có người dùng lương khô trả tiền chữa bệnh.
Có người chẳng có gì, chỉ nói cho ta biết phía trước nơi nào có binh, nơi nào có phỉ.
Dựa vào những tin tức vụn vặt ấy, chúng ta lần lượt tránh được đường nguy hiểm.
Cuối tháng thứ năm, Tinh ca nhi đã gầy chỉ còn da bọc xương.
Đệ không hỏi khi nào mẫu thân tới nữa.
Có một lần ta cố ý nhắc tới Hoắc Chiêu Ninh.
Đệ chỉ cúi đầu nghịch con hổ vải cũ nát.
Rất lâu sau mới hỏi:
“Mẫu thân có phải không tìm thấy chúng ta không?”
Ta không biết trả lời thế nào.
Đệ nghĩ một lúc rồi tự lắc đầu.
“Mẫu thân rất thông minh. Là chúng ta đi nhanh quá. Lần sau đi chậm một chút, mẫu thân sẽ đuổi kịp.”