Kỷ Uyển dùng ngón tay gõ nhẹ lên bản án, nói:

“Một người đến năm 2010 còn không có nổi 40.000 tệ để trả lương công nhân, vậy năm 2009 lấy đâu ra 51.600 tệ để góp vốn xây nhà cho người khác?”

Dựa theo địa chỉ trong hồ sơ vụ án cũ, tôi tìm được thợ cả Đỗ ở thị trấn Thanh Khê, cách thành phố hơn một tiếng đi xe buýt.

Ông sống trong một căn nhà cấp bốn nằm cạnh lò gạch đã bỏ hoang từ lâu.

Một chân ông đi tập tễnh vì từng bị ngã giàn giáo.

Khi nghe tôi giới thiệu mình là cháu ngoại của bà Châu, ông đứng sững ngay trước cửa.

Sau đó, ông vội lau tay vào ống quần rồi đưa tay ra bắt tay tôi.

Tôi đưa bản chụp của tờ thỏa thuận có tên ông ở mục người làm chứng cho ông xem.

Chỉ vừa nhìn thấy, mặt ông đã đỏ bừng từ cổ lên tận mang tai.

Ông tức giận nói:

“Tôi chưa bao giờ ký vào thứ này!”

“Không phải như vậy đâu, bà Châu đã trả đủ tiền rồi.”

“Hồi đó, bà ấy mang từng xấp tiền ra chiếc bàn đá ngoài sân, bắt Phùng Đức Hải ký nhận ngay tại chỗ.”

“Tôi đứng bên cạnh, tận mắt chứng kiến từ đầu đến cuối.”

“Thế mà sau đó, hắn lại quỵt tiền lương của cả đội chúng tôi suốt một năm trời!”

Nói xong, ông lục trong ngăn tủ, lấy ra một tờ giấy nhận nợ do chính Phùng Đức Hải viết cho đội thợ vào năm 2010.

Nét chữ ở chữ “Hải” kéo dài y hệt chữ ký trên tờ biên nhận của bà ngoại.

Cho đến tận bây giờ, khoản nợ ấy vẫn còn thiếu 3.000 tệ chưa được thanh toán.

Ông im lặng một lúc, nhìn về phía lò gạch bỏ hoang ngoài sân rồi chậm rãi nói:

“Nếu tòa cần, tôi sẽ đến làm chứng.”

“Coi như trả lại cho bà Châu mấy ấm trà năm ấy.”

Buổi hòa giải được tổ chức trong một căn phòng nhỏ ở tầng ba của tòa án quận.

Thẩm phán Lam ngồi ở vị trí đầu bàn, mái tóc được b/úi gọn gàng, trên sống mũi là cặp kính gọng mảnh.

Phùng Đức Hải mặc áo sơ mi trắng, ngồi thẳng lưng bên cạnh luật sư của mình.

Dì Mỹ Phượng ngồi phía sau, chiếc khăn tay đã được cầm sẵn trong tay.

Luật sư của nguyên đơn trình bày vụ việc vô cùng trôi chảy.

Theo lời ông ta, đội thi công đã góp vốn xây dựng tầng hai căn nhà.

Do bà Châu không có đủ tiền hoàn trả, hai bên mới đồng ý đối trừ khoản tiền đó bằng sáu phần mười diện tích tầng một.

Hiện tại, bị đơn không chịu thừa nhận thỏa thuận chỉ vì muốn độc chiếm toàn bộ tiền bồi thường.

Đến lượt mình, tôi không nói quá nhiều.

Kỷ Uyển lần lượt đặt bốn tài liệu lên bàn.

Thứ nhất là bản chụp tờ biên nhận ngày 28 tháng 5 năm 2009.

Thứ hai là trang sổ tiết kiệm ghi khoản rút tiền vào ngày 27 tháng 5 cùng năm.

Thứ ba là bản án về vụ kiện nợ lương năm 2010.

Cuối cùng là văn bản xác nhận của Đỗ Trường Xuân, trong đó ông khẳng định mình chưa từng ký vào bất kỳ thỏa thuận nào như văn bản do nguyên đơn cung cấp.

Sau đó, tôi nộp đơn đề nghị giám định tư pháp đối với chữ ký và thời điểm hình thành của cả hai văn bản, bao gồm tờ biên nhận của chúng tôi và bản thỏa thuận mà phía nguyên đơn đưa ra.

Phùng Đức Hải nhìn chằm chằm vào tờ biên nhận, ánh mắt như đang nhìn một con rắn vừa bò ra từ khe tường.

Trong vài giây, sắc mặt ông ta trắng bệch.

Nhưng một người đã làm thầu xây dựng suốt ba mươi năm hiển nhiên không dễ dàng sụp đổ như vậy.

Ông ta lập tức đập tay xuống bàn, lớn tiếng phản bác:

“Thưa thẩm phán, con bé này làm nghề phục chế giấy cũ ở trung tâm lưu trữ.”

“Giấy có ố vàng đến đâu, nó cũng có thể làm cho trông như thật.”

“Tờ biên nhận đó chắc chắn là do chính tay nó làm giả!”

Dì Mỹ Phượng cũng lập tức òa khóc, phối hợp đúng lúc như thể đã chuẩn bị từ trước.

Thẩm phán Lam không ngẩng đầu, chỉ tiếp tục ghi chép rồi bình thản nói:

“Chính vì có những nghi vấn như vậy nên mới cần tiến hành giám định.”

Tòa chấp thuận đề nghị của chúng tôi.

Hai bên được yêu cầu nộp bản gốc các văn bản trong thời hạn quy định.

Khi Kỷ Uyển đi làm thủ tục nộp giấy tờ, Phùng Đức Hải cố tình bước chậm lại, đi ngang bên cạnh tôi.

Ánh mắt ông ta vẫn hướng thẳng về phía cầu thang.

Ông ta hạ giọng, nói khẽ:

“Cháu tưởng chỉ cần một tờ giấy là có thể giải quyết xong mọi chuyện sao?”

“Chú làm thầu ba mươi năm rồi.”

“Móng nhà nào bị lún, chú đều biết cách đổ lại một cái móng khác.”

Nói xong, ông ta bước nhanh xuống cầu thang, không hề ngoảnh đầu nhìn lại.

Ra đến cổng tòa án, tôi mở nhóm chat của ngõ.

Lần đầu tiên sau nhiều ngày, thím Hồ không đăng tải bất kỳ thứ gì.

Sự im lặng của một cái loa phường đôi khi còn đáng giá hơn mọi lời xin lỗi.

Đêm hôm ấy, tôi trải toàn bộ giấy tờ lên bàn ăn, sắp xếp lại hồ sơ để chuẩn bị cho Kỷ Uyển.

Bản chụp thỏa thuận góp vốn được đặt cạnh bản trích lục giấy phép xây dựng năm 2009.

Hai dòng địa chỉ tình cờ nằm thẳng hàng với nhau.

Một dòng ghi quận Hoài Âm.

Dòng còn lại ghi quận Đông Hoài.

Tôi nhìn chằm chằm vào hai cái tên ấy cho đến khi cốc trà trong tay nguội hẳn.

Một văn bản được ký vào năm 2009 không thể nào biết trước rằng tám năm sau sẽ xuất hiện một quận mang tên Đông Hoài.

Tôi lập tức gọi cho Kỷ Uyển, dặn cô ấy giữ kín phát hiện này cho đến ngày xét xử.

Ngoài hai chúng tôi ra, không ai được phép biết chuyện này, kể cả dì.

Có những lá bài chỉ nên lật đúng một lần, vào thời điểm đối phương không còn đường rút lui.

Ngày 26 tháng 5 là ngày giỗ đầu của bà ngoại.

Tối hôm trước, dì gọi điện hỏi tôi dự định mấy giờ đi viếng mộ.

Dì xin lỗi, nói rằng sáng hôm sau tổ công tác có cuộc họp đột xuất nên không thể đi cùng tôi được.

Dì còn dặn tôi thắp giúp dì ba nén hương cho bà ngoại.

Tôi nói mình sẽ bắt xe buýt đến nghĩa trang Tây Sơn lúc tám giờ sáng, ở lại dọn dẹp phần mộ rồi buổi chiều mới trở về.

Nghĩa trang nằm trên sườn một ngọn đồi ở ngoại thành.

Đã sang tháng Năm, cỏ dại mọc dày đến mắt cá chân.

Tôi cúi xuống nhổ sạch cỏ, lau bia mộ, sau đó đặt lên mộ một cành hải đường hái từ cây bà ngoại từng trồng trong sân nhà.

Tôi ngồi bên mộ, kể cho bà nghe chuyện tờ biên nhận được giấu trong lớp vải lót của chiếc hộp kim chỉ.

Gần mười giờ, điện thoại bỗng rung lên.

Một thông báo hiện ra trên màn hình, cho biết camera ở cửa chính nhà tôi đã mất kết nối.

Tôi lập tức gọi cho thím Hồ, người duy nhất có thể nhìn thấy cửa nhà tôi từ cửa sổ nhà mình.

Nhưng thím không bắt máy.

Chương 5 - Hàng Xóm Chiếm Nhà, Trọng Sinh Tôi Cho Cả Nhà Họ Phải Trả Giá - Đọc truyện ngôn tình tổng tài bá đạo miễn phí | Lão Phật Gia