Xuân Đào đột ngột lao vào, vạt váy hất văng chiếc đôn gốm xanh, giọng nói vỡ ra vì hoảng loạn:

“Thế t.ử phi! Không xong rồi! Tin tức từ trong cung vừa truyền ra, Thái t.ử điện hạ bị phế rồi!”

Ta chợt mở bừng mắt, mí mắt giật liên hồi, đầu óc trống rỗng một mảng, chỉ biết đăm đăm nhìn nàng:

“Ngươi nói lại lần nữa xem? Ai? Ai bị phế?”

Xuân Đào “phịch” một tiếng quỳ rạp xuống đất, nước mắt nước mũi lem luốc cả mặt, vừa sụt sịt vừa nhắc lại:

“Là Thái t.ử! Cố Triết! Đêm qua đã bị áp giải vào Chiếu ngục rồi! Bị giam suốt năm ngày liền! Hoàng thượng đến nay vẫn chưa hạ chỉ, cũng không cho phép bất kỳ ai vào thăm…”

Ta ngồi trên ghế mây, nhưng m.á.u toàn thân như đông cứng lại. Đầu ngón tay tê dại, lòng bàn chân bủn rủn, đến cả hơi thở cũng nghẹn lại nơi cổ họng.

Nắng bên ngoài cửa sổ vẫn rực rỡ như cũ, nhưng cả người ta lại như bị ném vào hầm băng tháng Chạp, đến cả hàng mi cũng phủ một lớp băng sương.

Triều đình trên dưới sớm đã loạn thành một đoàn, phong thanh hạc lệ, ai nấy đều chỉ lo cho bản thân.

Thế nhưng ta lại hoàn toàn không hay biết.

Ta vốn sinh ra đã là kẻ lười biếng, không thích đi lại, càng chẳng thích bận tâm suy nghĩ.

Ngày thường, nếu không cuộn tròn trong gian phòng ngủ trải t.h.ả.m nhung dày, sưởi ấm rồi ngủ một giấc thật say, thì cũng là tựa lưng vào chiếc ghế mỹ nhân hóng nắng.

Đệm gấm mềm đến mức có thể lún nửa người vào đó. Thỉnh thoảng hứng lên, ta lại đu đưa trên chiếc xích đu treo dải lưu tô trong viện, đung đưa qua lại rồi thiếp đi lúc nào chẳng hay, đến cả giấc mơ cũng phảng phất hơi ấm.

Ta cực kỳ hiếm khi bước chân ra khỏi cửa viện nửa bước.

Lần này chịu nhúc nhích thân mình là vì sinh thần của phu quân Lục Lâm Phong đã đến.

Ta đã bắt đầu chuẩn bị từ nửa tháng trước: tự tay thêu một chiếc túi bình an đính mười tám hạt nam châu, mỗi hạt đều được chỉ vàng tỉ mỉ quấn c.h.ặ.t; lại còn chưng suốt ba ngày mật hoa quế, lọc cặn đến mức ngón tay mỏi nhừ, chỉ để chàng được nếm một ngụm thanh ngọt mà không ngấy.

Canh đúng giờ chàng bãi triều về phủ như mọi khi, ta vuốt lại chiếc áo choàng màu nguyệt bạch đơn sơ trên người.

Trên b.úi tóc chỉ cài một chiếc trâm bộ d.a.o hình lá ngân hạnh.

Sau khi sửa soạn xong, ta bước ra khỏi cửa viện, đi đến tận cạnh con sư t.ử đá ngoài phủ để đợi chàng.

Mọi năm vào giờ này, chàng luôn có thể nhìn thấy ta từ xa, sau đó bước chân dồn dập tiến lại gần, nhét bàn tay lạnh đến hơi ửng đỏ của mình vào lòng bàn tay ta, mỉm cười hỏi:

“A Uyển, trong bát mì năm nay, có bỏ thêm hành hoa không?”

Thế nhưng vừa đi đến cửa viện, ta đã bị chặn lại.

Ta dụi dụi đôi mắt còn nhập nhèm buồn ngủ, lúc này mới nhận ra có điều bất thường.

Hai tiểu nha hoàn ngày thường thích nói thích cười đã biến mất, thay vào đó là hai gã thị vệ mặt không cảm xúc, bên hông đeo trường đao.

Giáp sắt phản chiếu ánh nắng, tỏa ra hàn khí bức người.

Một kẻ trong số đó “xoạt” một tiếng rút kiếm khỏi bao. Lưỡi kiếm sáng quắc phản chiếu gương mặt tái nhợt của ta.

Giọng hắn lạnh băng, cứng đờ như sắt thép:

“Thế t.ử phi, người không thể ra ngoài.”

Ta ngơ ngác đứng chớt dí tại chỗ, trái tim như bị một bàn tay băng giá siết c.h.ặ.t, đột ngột co thắt lại.

Ta đã bị giam cầm rồi.

Một suy nghĩ như tia sét đ.á.n.h ngang tai, giáng thẳng xuống đầu óc ta: Cố Triết gặp họa rồi.

Mà lại là tai họa ngập đầu.

Ta thất thần lê bước vào căn bếp nhỏ, ngồi bệt xuống chiếc ghế thấp lạnh ngắt, đến cả giày cũng chưa kịp tháo.

Nước trong nồi từ lâu đã sôi bùng lên, ùng ục trào bọt trắng. Hơi nước bốc lên nghi ngút, b.ắ.n ra những giọt nước nhỏ li ti, tí tách rơi trên mu bàn tay ta, nhưng ta lại chẳng cảm thấy nóng.

Sắc trời từng chút một sẫm lại, từ xám xanh, chuyển sang chàm thẫm, rồi đến đen kịt. Cuối cùng, cả gian viện bị bóng tối đặc quánh nuốt chửng.

Những ma ma, Xuân Đào, tiểu nha đầu quét sân từng hầu hạ ta trước kia… tất cả đều biến mất không dấu vết. Đến một con ch.ó, con mèo cũng chẳng thấy đâu.

Yên tĩnh.

Yên tĩnh đến mức có thể nghe rõ tiếng tim mình đập.

Thùng, thùng, thùng.

Tựa như một chiếc trống rách, gõ vang trong căn phòng trống hoác.

Giờ Lục Lâm Phong trở về phủ đã qua từ lâu.

Nước ấm trong ấm đồng đã được thêm ba lượt, rồi cũng nguội lạnh cả ba lượt.

Đầu ngón tay ta siết c.h.ặ.t góc chiếc khăn tay thêu, từng sợi chỉ bị kéo đứt tung, để lộ lớp lót màu đỏ thẫm bên dưới.

Chiếc ghế gỗ t.ử đàn lạnh thấu xương, vậy mà ta vẫn cố chấp ngồi đó, tựa như một bức tượng đất bị đóng đinh tại chỗ.

Bên ngoài cửa sổ, tiếng mõ canh đã gõ hai tiếng, đêm đã sâu lắm rồi.

Đó là lần đầu tiên trong suốt năm năm thành hôn, chàng không bước qua cánh cửa này vào giờ Tuất ba khắc.

Khớp ngón tay trắng bệch vì lạnh, móng tay cắm sâu vào lòng bàn tay. Thực ra, ta sợ đến phát điên.

Căn phòng trống chỉ còn tiếng đồng hồ quả lắc tích tắc, tích tắc, tựa như nhịp trống đếm ngược thời gian, từng tiếng một nện mạnh vào trái tim ta.

Sự chờ đợi không đầu không cuối ấy giống như hàng vạn mũi kim tỉ mỉ đ.â.m sâu vào từng kẽ xương. Càng đ.â.m càng sâu, càng đ.â.m càng đau, cuối cùng hóa thành một nỗi sợ hãi mênh m.ô.n.g, vô bờ bến.

Ta co gối lên, gục mặt vào vòng tay, suy nghĩ lung tung.

Rốt cuộc ta có chớt không?

Chớt, rốt cuộc là cảm giác gì?

Đầu ngón tay lạnh ngắt áp lên gò má, ta đột nhiên rùng mình một cái.

Hóa ra, ta thật sự biết sợ rồi.

Dưới hành lang bỗng vang lên tiếng động sột soạt khe khẽ, tựa như lá khô bị gió cuốn qua nền gạch xanh.

Ta bật dậy như lò xo, chân ghế ma sát với mặt đất phát ra một tiếng rít ch.ói tai.

Ta vội vàng vuốt phẳng những nếp nhăn trên vạt váy, cố nặn ra một nụ cười tự nhiên nhất có thể, khóe miệng cong lên vừa đúng độ.

Đáng tiếc thay.

Người đến lại không phải Lục Lâm Phong.

Mà là đại tẩu.

Nàng ta cầm một chiếc đèn l.ồ.ng sừng dê, một thân một mình đứng nơi ngưỡng cửa.