“Muội nghĩ tỷ tỷ quản gia nhiều năm, khó tránh có vài thứ riêng lẫn lộn với đồ công, nên hôm nay đặc biệt đến giúp tỷ tỷ chỉnh lý.”
Nói thì đẹp đẽ, nhưng ý tứ chẳng khác gì: ta đến xét nhà.
Bà mẫu ăn nốt miếng bánh hạch đào cuối cùng, nhai xong mới bưng trà súc miệng.
Sự chậm rãi ung dung ấy khiến nụ cười đắc ý trên mặt Liễu di nương dần cứng lại.
“Muội muội.”
Bà mẫu đặt chén trà xuống, lau tay bằng khăn, giọng điệu bình ổn: “Muội có biết ta gả vào Hầu phủ bao lâu rồi không?”
Liễu di nương khựng lại: “Chuyện này… chắc cũng hơn hai mươi năm.”
“Hai mươi ba năm.”
Bà mẫu đứng dậy, từng bước tiến về phía bà ta: “Hai mươi ba năm trước, khi muội còn hát rong dưới gầm cầu, ta đã ngồi trong viện này đối chiếu từng trang sổ sách với tiên sinh phòng thu chi rồi.”
“Muội nghĩ trong kho riêng của ta có gì, ta lại không biết hay sao?”
Mặt Liễu di nương đỏ bừng.
Điều bà ta sợ nhất chính là bị nhắc lại xuất thân thấp kém năm xưa.
Mà hôm nay, trước mặt đầy phòng hạ nhân, bà mẫu chỉ dùng một câu “hát rong dưới gầm cầu” đã xé rách lớp thể diện bà ta vất vả tô vẽ.
“Tỷ tỷ, tỷ…”
Liễu di nương nghiến răng: “Muội chỉ phụng mệnh làm việc, tỷ tỷ cần gì phải nói lời làm nhục người khác?”
“Phụng mệnh?”
Ta bước lên, cười như không cười: “Phụng mệnh ai? Hầu gia bảo tra sổ công, đâu có bảo xét kho riêng của chủ mẫu.”
“Hay Liễu di nương đang mượn danh Hầu gia để báo thù riêng?”
Sắc mặt Liễu di nương lập tức biến đổi.
Ma ma thân tín bên cạnh bà ta vội ra mặt hòa giải: “Thiếu phu nhân hiểu lầm rồi, di nương cũng là vì Hầu phủ.”
“Nếu kho riêng của phu nhân thật có vật gì khó nói rõ, đến lúc Hầu gia biết được, chẳng phải mọi chuyện càng khó coi hơn sao?”
“Vật khó nói rõ?”
Ta quay sang bà mẫu, cười hỏi: “Mẫu thân, trong kho riêng của người có thứ gì khó nói rõ sao?”
Khóe môi bà mẫu hơi cong: “Chỉ có danh sách của hồi môn, khế đất điền trang, vài hòm sách cổ và tranh chữ nhà mẹ đẻ cho theo khi xuất giá.”
“Tất cả đều ghi trong sổ, từng món từng món rõ ràng.”
Ta lại nhìn Liễu di nương: “Di nương nghe rồi chứ? Hay người cứ xử lý mấy khoản thiếu hụt trong sổ công trước đi, rồi hẵng đến lo kho riêng của phu nhân.”
“Dù sao bạc trong sổ công đã thiếu từ trước khi người tiếp quản. Trách nhiệm rơi vào đầu ai, chắc người cũng hiểu mà.”
Lời vừa nói ra, sắc mặt mấy bà t.ử sau lưng Liễu di nương đều thay đổi.
Mấy khoản mập mờ trong sổ công ấy, có mấy ai trong số họ thật sự sạch tay?
Nếu truy cứu tận gốc, e rằng đống lửa lập uy đầu tiên của Liễu di nương sẽ thiêu cháy chính cái ghế bà ta vừa ngồi lên.
Liễu di nương hận đến mức dùng mắt lườm ta như d.a.o, rít ra từng chữ: “Muội muội, ta nhớ kỹ rồi.”
Bà ta dẫn người rời đi, lúc đi ngay cả lễ cũng chẳng buồn làm.
Bà mẫu nhìn theo bóng lưng bà ta, đột nhiên cười khẽ.
“Con xem cái eo ấy đi, đói đến bước chân cũng không vững, vậy mà còn tưởng mình được lợi.”
Bà lắc đầu, giọng không còn giận dữ, chỉ còn lại chút buồn cười xa xăm: “Năm đó ta lại từng xem người như bà ta là đối thủ, so đo suốt mười lăm năm.”
“Không đáng.”
Ta đỡ bà ngồi lại, rót một chén trà đưa qua: “Bây giờ thấy rõ cũng chưa muộn.”
Mấy ngày sau đó, Liễu di nương chính thức bắt đầu quản gia.
Bà ta hạ lệnh khôi phục quy củ nữ quyến sau giờ Ngọ không được ăn, còn sai người dỡ luôn bếp nhỏ trong viện bà mẫu.
Bà ta thay cả quản sự mua sắm của phòng bếp, đổi thành người bên nhà mẹ đẻ mình.
Kết quả là trên dưới Hầu phủ ngay cả một miếng điểm tâm t.ử tế cũng chẳng còn.
Khi ta kể chuyện ấy cho bà mẫu nghe, bà đang tưới hoa trong sân, tay vẫn thong thả không dừng.
“Mặc bà ta.”
Bà tưới nước lên chậu hoa nhài, giọng bình thản như đã buông được một gánh nặng: “Tối qua con nói hôm nay làm món gà lòng già phải không?”
“Ở viện con.”
Ta hạ giọng: “Bếp nhỏ bị dỡ thì có gì đáng sợ. Con đã cho người dựng một bếp khác ở dãy phòng sau, củi cũng lén chuyển vào từ cửa sau rồi.”
Bà mẫu đặt gáo nước xuống, quay đầu nhìn ta, đôi mắt bỗng sáng lên.
“Đi thôi.”
Đêm đó, bà mẫu ăn gà lòng già đến miệng đầy dầu thơm.
Bà học theo ta dùng muôi thủng vớt lòng già dưới đáy nồi, nhúng qua dầu mè và tỏi giã, rồi đưa vào miệng nhai giòn sần sật.
Ăn được nửa chừng, nha hoàn của bà hớt hải chạy vào, mặt trắng bệch.
“Phu nhân, Hầu gia đến!”
Lời vừa dứt, cửa viện đã bị người ta đá bật ra.
Bùi Hầu gia đứng ở cửa, phía sau là Liễu di nương và Bùi Cảnh, ba khuôn mặt đều căng cứng như thể vừa bắt được tội lớn.
Liễu di nương siết khăn, mắt ngấn lệ: “Hầu gia, người xem đi, thiếp thân không nói sai. Tỷ tỷ và thiếu phu nhân trốn trong viện ăn vụng, còn lén dựng bếp nữa!”
“Quy củ thiếp thân mới đặt ra, vậy mà hai người họ đã phá sạch.”
Mặt Bùi Hầu gia tối sầm.
Ông ta bước nhanh vào, đập mạnh tay xuống bàn, khiến bát đũa rung lên lách cách.
“Lâm thị!”
Ông ta chỉ vào bà mẫu: “Ta bảo nàng tĩnh dưỡng hối lỗi, còn nàng lại ở đây ăn uống no say!”
“Nàng nhìn dầu trên mặt, nhìn nước sốt trên áo mình xem, còn có chút dáng vẻ nào của chủ mẫu Hầu phủ không?”
Bà mẫu vẫn ngồi yên.
Bà lấy khăn lau khóe môi, rồi ngẩng đầu nhìn người phu quân đã cùng mình đi qua hơn hai mươi năm.
“Bùi Kính Chi.”
Giọng bà rất nhạt: “Ông nói xong chưa?”
Bùi Hầu gia sững lại vì thái độ ấy.
Bà mẫu chậm rãi đứng lên, lưng thẳng như thân trúc sau mưa.
“Ông nói ta không có dáng vẻ của chủ mẫu.”
“Vậy ta hỏi ông, đường đường là Hầu gia, nửa đêm xông vào viện của con dâu, cửa cũng không gõ, như thế lại là dáng vẻ gì?”
“Bà!”
Bùi Hầu gia bị nghẹn lời.