Anh ta cầm chiếc bánh nóng hổi, vừa đi vừa c.ắ.n một miếng, đi được năm bước liền quay ngoắt lại: “Đồng chí, bánh ngon quá, cho tôi mua thêm ba chiếc nữa cho mấy người cùng tổ sản xuất!”
Lòng tin của đám đông lập tức được kích hoạt, số người xếp hàng bắt đầu tăng lên.
Tôi nhanh tay gắp bánh, Cảnh An thu tiền và thối tiền rất nhanh nhẹn, chính xác.
Tôi để ý thấy cháo bán chậm hơn vì công nhân vội đi làm không kịp ngồi ăn, bánh ngô kẹp nhân bán chạy nhất.
Đến gần bảy giờ sáng, trên khay vẫn còn thừa ba chiếc bánh.
Tôi không hề thất vọng, liền thu dọn quầy, lau sạch sẽ mặt bàn gỗ và quét sạch góc tường xung quanh.
Ba chiếc bánh thừa tôi mang về nhà cho Cảnh Hòa và Ninh Ninh ăn sáng, tuyệt đối không để dành sang ngày hôm sau.
Buổi sáng đầu tiên, tôi chỉ bán được hơn mười chiếc bánh.
Cảnh An nhìn số tiền ít ỏi, sợ mẹ buồn.
Nhưng Hứa Chiêu Ninh lại khoanh tròn một con số.
“Mười bốn người quay lại hỏi ngày mai còn bán không.”
“Vậy là đủ.”
…
Buổi tối, tôi lại trải cuốn sổ bán hàng lên chiếc bàn gỗ ở phòng khách.
Cảnh An ngồi bên cạnh, cẩn thận dùng b.út chì ghi chép lại các con số: số bánh làm ra, số bánh đã bán, tiền thu về, chi phí mua bột, mua rau, mua than.
Cậu bé tính toán một hồi rồi ngước lên, mặt hơi lo lắng: “Mẹ ơi, con tính tổng tiền thu vào bị thiếu mất một hào so với số bánh bán được.”
Tôi không trách mắng, xoa đầu cậu bé: “Không sao, hai mẹ con mình cùng kiểm tra lại từng dòng xem sao.”
Cảnh Hòa đang ngồi chơi gần đó, đột ngột ngẩng đầu lên nói: “Con nhớ rồi! Lúc sáng có một chú mua hai chiếc bánh rau hết hai hào, nhưng chú ấy đưa thêm một hào để đổi lấy một chiếc bánh trứng thịt, anh An chưa ghi đổi loại bánh đấy!”
Tôi kiểm tra lại, đúng là số tiền lập tức khớp hoàn chỉnh.
Tôi gõ nhẹ vào mũi Cảnh Hòa: “Trí nhớ của Cảnh Hòa tốt thật đấy, giúp mẹ tìm ra một hào bị mất rồi.”
Thằng bé đỏ mặt, cố tình quay mặt đi chỗ khác nhưng khóe môi không giấu được vẻ vui mừng hãnh diện.
Qua phản hồi của khách ngày đầu, họ thích nhân bánh đậm vị hơn một chút vào buổi sáng để ăn kèm cháo.
Tôi quyết định phân chia thực đơn rõ ràng thành hai loại bánh: bánh rau cơ bản giá một hào, và bánh trứng thịt đặc biệt giá một hào hai hào để đáp ứng nhu cầu cao hơn.
Nồi cháo xương được giảm số lượng xuống một nửa, thay vào đó tôi nấu thêm một nồi nước đậu nành nhỏ để tặng kèm cho khách mua hai bánh.
Tần Hoài Chinh đi làm về, nghe thấy chúng tôi bàn bạc liền nhắc nhở: “Nước đậu nành thời tiết này rất dễ bị chua nếu cô ủ nóng trong nồi quá lâu, phải chú ý định lượng.”
“Tôi biết rồi, tôi sẽ dùng phương pháp ủ cách nhiệt gián tiếp để giữ nhiệt độ ổn định ở mức 60 độ C, vi khuẩn khó sinh sôi.” Tôi đáp bằng tư duy hóa sinh thực phẩm.
Tần Hoài Chinh nhìn tôi, mắt thoáng hiện sự ngạc nhiên rồi anh lặng lẽ đi ra sân sau, giúp tôi chế tạo một chiếc nắp đậy bằng gỗ hai lớp có lót vải bông để tăng khả năng giữ nhiệt cho nồi nước đậu.
Cảnh An đề nghị: “Mẹ ơi, làm hai loại bánh thì lúc đông khách dễ bị nhầm lẫn lắm.”
Tôi gật đầu: “Mẹ sẽ dùng hành lá cắt khúc dài trang trí trên mặt bánh trứng thịt, còn bánh rau thì rắc hành hoa nhỏ, nhìn một cái là phân biệt được ngay.”
Ninh Ninh ngồi bên cạnh, đếm ngón tay giúp mẹ đếm số bánh dự tính cho ngày mai, con bé đếm sai từ mười nhảy lên mười lăm khiến cả nhà cùng bật cười thành tiếng.
Đây là lần đầu tiên tiếng cười xuất hiện tự nhiên, ấm áp trong căn nhà họ Tần.
Tôi quyết định ngày thứ hai sẽ tăng số lượng lên bốn mươi phần ăn.
Tần Hoài Chinh nhìn đồng hồ treo tường, trầm giọng nói: “Đã chín giờ ba mươi rồi, cô đi ngủ đi.”
Tôi nhướng mày nhìn anh: “Kỹ sư Tần, anh lấy tư cách gì để quản thời gian ngủ của tôi?”
Anh đáp rất bình thản, mặt không đổi sắc:
“Điều khoản giao ước ba tháng nói cả hai bên phải giữ gìn sức khỏe để chăm sóc các con.”
Tôi cứng họng, không cãi lại được lý lẽ của người đàn ông này, đành thu dọn sổ sách đi vào phòng ngủ.
Trước khi đi ngủ, Hứa Chiêu Ninh khóa hộp gia vị.
Cảnh Hòa hỏi vì sao phải khóa.
Cô đáp:
“Đồ ăn bán cho người khác, cẩn thận một chút không bao giờ thừa.”
Nhưng cô không biết—
Đã có người bắt đầu để ý chiếc chìa khóa ấy.
…
Sáng ngày thứ hai, trời vừa tờ mờ sáng, tôi và Cảnh An đã đẩy chiếc xe gỗ ra cổng phụ nhà máy.
Bất ngờ là đã có vài người công nhân đứng chờ sẵn từ trước.
Anh công nhân trẻ hôm qua mua bánh lại bước tới trước tiên, cười xởi lởi: “Đồng chí Hứa, cho tôi năm chiếc bánh trứng thịt nhé, hôm qua mấy người cùng tổ ăn thử đều khen nức nở, bắt sáng nay tôi phải mua hộ.”
Một nhân viên văn phòng của ban hành chính cũng đứng vào hàng: “Tôi lấy một chiếc bánh rau và một bát cháo ăn tại chỗ.”
Tiếng lành đồn xa, người mua truyền tai nhau về quầy ăn sáng cổng phụ: bánh ngon, nóng hổi, ăn no bụng mà giá cả lại cực kỳ phải chăng.
Cảnh An đứng bên cạnh hộp tiền, tay thối tiền nhanh thoăn thoắt, miệng bắt đầu biết chào hỏi khách.
Tôi đeo chiếc tạp dề trắng sạch sẽ, tóc b.úi gọn gàng, tay dùng kẹp sắt gắp bánh chứ tuyệt đối không chạm tay không vào đồ ăn, nhìn vô cùng sạch sẽ, chuyên nghiệp.
Giữa đám đông, có một người đàn ông cố ý cất giọng hỏi lớn: “Này cô béo, bánh này có phải đồ thừa từ hôm qua cô rán lại không đấy?”
Tôi không hề bối rối, vừa lật bánh vừa đáp lời: “Đồng chí yên tâm, quầy của tôi cam kết đồ ngày nào bán hết ngày đó, nếu ai phát hiện ra đồ cũ tôi xin đền gấp mười lần tiền.”
Dì Trương đứng bên cạnh cũng lên tiếng nói đỡ: “Đúng đấy, tôi làm chứng, chiều qua con bé dọn quầy sạch trơn, nồi niêu rửa bóng loáng.”
Khách hàng nghe vậy càng thêm yên tâm xếp hàng, không còn ai nghi ngại nữa.
Chưa đầy sáu giờ bốn mươi phút, bốn mươi chiếc bánh ngô kẹp nhân và nồi cháo xương đã bán sạch bách không còn một giọt.
Một vài người đến muộn tiếc nuối hỏi: “Mai có làm thêm không đồng chí? Tôi muốn đặt trước ba chiếc cho sáng mai.”
Tôi lấy cuốn sổ nhỏ ra ghi lại tên và số lượng đặt trước của họ: “Được chứ, tôi nhận đặt trước, nhưng sức người có hạn, ngày mai tôi chỉ làm tối đa sáu mươi phần thôi nhé.”
Phía bên kia đường, có hai người mặc trang phục của nhà ăn tập thể nhà máy đang đứng núp sau cột điện, chăm chú quan sát quầy của tôi với ánh mắt tối tăm.
Nhà ăn tập thể sáng hôm đó ế ẩm rất nhiều bánh hấp nguội ngắt và cháo trắng loãng thếch.
Một tên trong số đó quay người, chạy nhanh về phía khu văn phòng hành chính để báo cáo tình hình cho quản lý nhà ăn.
Mà quản lý nhà ăn lại thuộc quyền quản lý trực tiếp của phó giám đốc Cao Đức Quang.
Bốn mươi phần bán hết trong chưa đầy một giờ.
Cảnh An ôm hộp tiền, lần đầu cười rõ ràng.
Nhưng phía bên kia đường, quản lý nhà ăn nhìn quầy bánh với gương mặt tối sầm.
…
Buổi tối ngày bán thứ hai, trên chiếc bàn ăn nhỏ của gia đình họ Tần.
Cảnh An phấn khởi đổ toàn bộ số tiền lẻ từ trong hộp thiếc ra mặt bàn gỗ.
Tôi ngăn thằng bé lại: “Cảnh An, đừng đếm vội, chúng ta phải làm đúng quy trình, trừ đi tiền vốn nguyên liệu trước đã.”
Tôi cùng thằng bé tính toán tỉ mỉ: tiền bột mì, bột ngô, tiền xương lợn, rau cải, trứng gà, tiền than tổ ong tiêu hao và giấy gói.
Sau khi trừ sạch sẽ chi phí gốc, con số lợi nhuận ròng hiện ra khiến cả ba đứa trẻ đều trừng lớn mắt.
Doanh thu thu về từ một buổi sáng bán hàng thực sự đã vượt qua mức tiền lương thử việc quy đổi theo ngày của tôi ở ban đối ngoại.
Cảnh Hòa nhảy cẫng lên, reo hò: “Ôi nhà mình giàu rồi! Ngày mai mua thật nhiều thịt ăn đi mẹ!”
Tôi gõ nhẹ vào trán thằng bé, nghiêm túc giải thích: “Tiền thu vào cao không có nghĩa là chúng ta đã giàu, đây là tiền lời của một buổi tốt trời.”
“Chúng ta phải giữ lại phần lớn làm vốn quay vòng cho ngày mai, và phải trích một phần cất riêng làm quỹ dự phòng cho gia đình.”
Tôi chia số tiền thành bốn phần rõ ràng: tiền vốn, tiền sinh hoạt phí, tiền tiết kiệm và một khoản nhỏ để Cảnh An mang sang trả nợ dì Trương.
Nhìn cách tôi phân bổ dòng tiền một cách khoa học, chuyên nghiệp, Tần Hoài Chinh đứng ở cửa phòng khách khẽ chớp mắt, ánh mắt hiện lên vẻ khâm phục rõ rệt.
Tôi dùng một phần tiền lời mua một hộp sữa bột bồi bổ cho Ninh Ninh, mua cho Cảnh An một cuốn vở bài tập mới và mua cho Cảnh Hòa một đôi dép nhựa mới vì đôi cũ của thằng bé đã rách bươm.
Tôi không mua bất kỳ món đồ nào cho bản thân mình.
Tần Hoài Chinh bước tới, nhìn bộ quần áo cũ kỹ, chật chội làm lộ rõ thân hình béo mập của tôi, hỏi nhỏ: “Cô không cần mua gì cho mình sao?”
Tôi lắc đầu, cười cười: “Đợi kiếm thêm chút nữa đã, giờ ưu tiên các con trước.”
Anh không nói gì thêm, quay người đi vào phòng làm việc.
Sáng hôm sau, khi tôi chuẩn bị đi làm, trên chiếc ghế gỗ ở cửa bỗng nhiên xuất hiện một đôi giày vải mới tinh, vừa vặn với cỡ chân của tôi.
Tần Hoài Chinh đi ngang qua, nói bằng giọng bằng phẳng: “Đồ bảo hộ lao động đơn vị phát dư ở kho nghiên cứu, tôi thấy bỏ không nên mang về.”
Tôi nhìn đôi giày vải, biết thừa viện nghiên cứu không bao giờ phát dư giày vải cỡ phụ nữ lớn thế này, nhưng tôi không vạch trần lời nói dối vụng về của anh.
Tôi xỏ giày vào chân, khẽ nói: “Cảm ơn anh.”
Trong khi cả nhà đang tính tiền, tại phòng làm việc của Cao Đức Quang—
Một bản báo cáo doanh thu nhà ăn được đặt lên bàn.
So với tuần trước, lượng người ăn sáng đã giảm gần một phần ba.