Ngay cả những lời Tống Uẩn Châu vô tình nói lúc say, rằng vị đại nhân nào thích thứ gì, sợ điều gì, trong nhà thê thiếp tranh đấu ra sao, ta cũng ghi không sót.

Từng hàng chữ nằm ngay ngắn trên giấy, giống như năm xưa mẫu thân ngồi phân chỉ thêu, tách từng sắc đỏ, cam, vàng, lục không để lẫn lộn.

Chỉ khác một điều.

Người phân biệt những sợi tơ hữu hình.

Còn ta đang lần theo những sợi dây vô hình được dệt từ lòng người, lợi ích và những bí mật nối liền Tống phủ với chốn quan trường.

Từ phía Lũng Nguyệt Các vọng đến tiếng tiêu buồn, lúc gần lúc xa giữa màn đêm.

Tống Uẩn Châu vốn thích nghe tiêu.

Ta từng muốn học, nhưng hắn bảo ta đã đủ vất vả vì chuyện trong phủ, không cần học thứ chỉ dùng để mua vui cho người khác.

Hóa ra không phải hắn không cần người biết thổi tiêu.

Chỉ là vị trí ấy, hắn chưa bao giờ muốn dành cho ta.

Ta khép hộp lại, tắt đèn rồi nằm xuống trong gian phòng lạnh.

Mẫu thân, người nhìn xem.

Sân khấu cũ đã lại dựng lên.

Chỉ là lần này, người đứng phía sau màn không còn là đứa trẻ năm nào nữa.

Mạnh Uyển vào phủ chưa đầy một tháng đã khiến mọi người đều hiểu vì sao nàng ta được Tống Uẩn Châu đặt trong lòng.

Nàng ta rất biết cách làm tri kỷ.

Mỗi khi hắn từ nha môn trở về, luôn có trà vừa đủ ấm, điểm tâm Giang Nam vừa mới ra lò đặt sẵn trên bàn.

Nàng ta nói chuyện nhỏ nhẹ, biết lúc nào nên phụ họa, lúc nào nên im lặng mỉm cười.

Thơ từ, âm luật hay những chuyện phong nhã, nàng ta đều có thể tiếp được đôi câu.

Khi muốn khiến người thương tiếc, chỉ cần khẽ nhíu mày, đưa tay che n.g.ự.c, cả người lập tức yếu mềm như nhành liễu trong gió.

Tống Uẩn Châu đến chỗ ta ngày một thưa.

Cho dù có ghé qua, hắn cũng chỉ dùng vội một bữa, hỏi vài chuyện trong phủ rồi nhắc đi nhắc lại:

“Chuyện lớn nhỏ đều khiến nàng phải lao tâm.”

“Uyển muội thân thể không tốt, nàng đừng quá nghiêm khắc với nàng ấy.”

Có khi hắn vừa ngồi xuống chưa được bao lâu, nha hoàn Lũng Nguyệt Các đã chạy đến, lúc thì nói biểu cô nương vừa gặp ác mộng, lúc lại báo nàng ta ho không dứt.

Tống Uẩn Châu lập tức chẳng thể yên lòng.

Hắn nhìn ta với chút áy náy, nhưng bước chân rời đi chưa từng chậm.

Ta cũng chưa từng giữ lại.

Mỗi lần hắn đứng dậy, ta còn dịu dàng nhắc:

“Đêm xuống lạnh, nhớ cho biểu muội khoác thêm áo.”

Nhụy Hòa đứng phía sau tức đến vò nát cả khăn tay.

Ta chỉ làm như không hay biết.

Một ngày Tống Uẩn Châu được nghỉ, hắn hiếm hoi ở lại chính viện từ sáng.

Đến trưa, hắn muốn thử loại Long Tỉnh trước tiết Thanh Minh mà ta vừa mua được.

Ấm trà mới pha còn chưa kịp rót, Mạnh Uyển đã mang theo mùi hương chi t.ử nhàn nhạt bước vào.

Nàng ta mặc áo vàng nhạt, sắc màu mềm như cánh hoa mới nở, trong tay cầm một khung thêu.

Sau khi hành lễ, nàng ta nhìn bộ trà cụ rồi vui vẻ nói:

“Trà thật thơm. Khi còn ở Giang Nam, muội thường cùng mẫu thân nấu trà. Người vẫn bảo trà do muội đ.á.n.h có bọt mịn và sạch nhất.”

“Hôm nay muội cả gan thử trước mặt biểu ca cùng tẩu tẩu, mong hai người đừng chê cười.”

Tống Uẩn Châu lập tức hứng thú:

“Không ngờ Uyển muội còn biết đ.á.n.h trà. Vậy mau để ta mở mang.”

Ta mỉm cười nhường chỗ:

“Biểu muội có nhã hứng, cứ tự nhiên.”

Mạnh Uyển rửa tay, đốt hương, từng động tác đều được thực hiện chậm rãi, duyên dáng.

Khi cầm chổi trà, cổ tay nàng ta mềm mại, thân hình hơi nghiêng, quả thật có vài phần đẹp mắt.

Tống Uẩn Châu nhìn không rời mắt, liên tục khen tay nghề nàng ta có phong vị cổ xưa, vượt xa những người chỉ biết pha trà thông thường.

Mạnh Uyển đỏ mặt, khiêm nhường nói:

“Muội chỉ học chút kỹ nghệ vụn vặt, nào sánh được với tẩu tẩu ngày ngày quản cả một phủ lớn. Bản lĩnh ấy mới thật sự khiến người khác kính phục.”

Tống Uẩn Châu bật cười:

“Tẩu tẩu của muội đương nhiên tài giỏi. Chỉ tiếc nàng ấy quá bận, quanh năm chẳng có mấy lúc thảnh thơi thưởng trà ngắm hoa.”

Ta nâng chén trà đã nguội trước mặt lên uống.

Trà ngon một khi lạnh đi, hương vẫn còn mà vị chỉ còn lại chát đắng.

Mạnh Uyển đ.á.n.h xong một chén, trước tiên dâng cho Tống Uẩn Châu.

Hắn nếm thử rồi gật đầu khen không ngớt.

Chén thứ hai được nàng ta hai tay đưa đến trước mặt ta.

“Tẩu tẩu cũng thử một chút.”

Ta cúi nhìn.

Trên lớp bọt trắng mịn, bột trà được điểm thành một đóa hợp hoan nhỏ.

Ta ngước lên.

Mạnh Uyển đang nghiêng mặt nhìn Tống Uẩn Châu, nụ cười ngây thơ đến vô tội.

“Biểu muội có đôi tay thật khéo.”

Ta đặt chén xuống mà không uống.

“Chỉ tiếc tỳ vị ta vốn hư hàn, đại phu dặn không nên dùng nhiều trà. Chén ngon thế này, ta chỉ có thể phụ tấm lòng của muội.”

Tống Uẩn Châu nhíu mày, hỏi ta bị hư hàn từ bao giờ, vì sao chưa từng nghe nói.

Ta dùng khăn chạm nhẹ khóe môi.

“Chỉ là bệnh cũ, chẳng đáng để phu quân bận lòng.”

“Ta hơi mệt, hai người cứ tiếp tục thưởng trà.”

Rời khỏi hoa sảnh, tiếng Tống Uẩn Châu dỗ dành Mạnh Uyển vẫn theo gió vọng đến:

“Tẩu tẩu của muội vốn lạnh nhạt như vậy, không phải cố ý nhằm vào muội.”

Bàn tay Nhụy Hòa đang đỡ ta khẽ run.

Ta vỗ nhẹ lên tay nàng, bảo nàng không cần lo.

Về đến phòng, ta mở chiếc hộp khảm xà cừ, lấy ra một trang giấy mới.

Sau khi mài mực, ta viết:

“Ngày mười chín tháng sáu, trời trong. Mạnh thị đ.á.n.h trà, vẽ hợp hoan trong chén.”

Dừng b.út một lát, ta thêm một hàng nhỏ:

“Lòng đã lộ, thủ đoạn còn vụng.”

Không cần phải vội.

Năm xưa, mẫu thân cũng nhẫn nại suốt năm năm mới chờ được nữ nhân kia tự bước đến bên giếng.

Sau buổi đ.á.n.h trà, Mạnh Uyển đổ bệnh.

Người bên cạnh nói nàng ta bị gió lạnh xâm nhập, lại thêm nhớ quê nên tâm bệnh phát tác, ngày ngày không thể xuống giường.